Skip to content

Phương hướng và la bàn phong thủy như thế nào?

phuong huong va la ban phong thuy nhu the nao

Hệ thống lớn thứ nhất của phong thủy là Hình Pháp. Nó tập trung vào hình thế sơn thủy xung quanh khu nhà, và bề ngoài của nhà ở. Chủ yếu, nói về được mất, cát, hung, không cần phải dùng thuyết Âm Dương Ngũ Hành.

Hệ thống thứ hai là Lý Pháp, nó nhấn mạnh việc phân biệt hướng, việc xác định phương hướng nhất thiết phải phù hợp với chủ nhân, dựa vào Sinh, Khắc, Chế, Hóa của Âm Dương Ngũ Hành, và sự biến đổi của bát quái để biết được cát hung.

Thầy phong thủy lấy nghĩa của kinh độ, vĩ độ, tất cả mọi thứ của la bàn, vừa gọi la bàn là la kinh. Cho rằng, la bàn có sức mạnh phi thường Hô Phong Hoán Vũ, vừa có thể so sánh với khí.

“Thừa khí, lập hướng, tiêu sa, nạp thủy”, vừa có thể đo được khí đất, “để phân biệt mức độ sang hèn”. Họ còn có thể đẩy lùi thời gian, biết được giờ hung, giờ lành.

La bàn là một loại công cụ phong thủy hợp nhất thời gian và không gian, được tạo thành do kết hợp hệ thống khí, lý, hình, số lại với nhau. La bàn được phát minh vào thời Hán, trải qua một thời gian phát triển lâu dài, nội dung của nó cũng ngày càng trở nên phong phú.

Đến đời Đường, thì la bàn đã trở nên tương đối phức tạp, nội dung bao hàm trong nó cũng càng ngày càng trở nên phong phú, trở thành một đồ vật thiết yếu không thể thiếu của các bậc thầy phong thủy xưa đến nay.

1. Cống hiến của la bàn đối với loài người.

La bàn là một trong tứ đại phát minh của Trung Quốc. Phát minh và ứng dụng của la bàn có liên quan đến hoạt động của Biện Phương Chính Vị, một cách chính xác trong lịch sử cổ đại của Trung Quốc.

Thời cổ đại, đất nước Trung Quốc không chỉ là nước sớm nhất phát minh ra sắt có từ tính, làm nó có thể chỉ được hướng Nam Bắc, mà còn là nước phát minh ra góc lệch từ (góc kép giữa đường kinh tuyến từ trường trái đất, và đường kinh tuyến từ trường địa lý).

Ngoài ra, Trung Quốc còn phát minh góc xiên từ (góc xiên giữa mặt đất và thể từ trái đất). Đây đều là những sáng tạo đầu tiên trên thế giới, có ý nghĩa phân chia thời đại. Sự phát minh ra la bàn là một trong những cống hiến của người Trung Quốc đối với lịch sử văn minh thế giới.

Theo ghi chép, ngay từ thời Chiến Quốc, người Trung Quốc đã bắt đầu sử dụng địa từ để xác định phương hướng. Kim chỉ nam và đĩa phương vị được bố trí phối hợp với nhau, sinh ra chiếc la bàn đầu tiên.

Phương pháp phân độ của bàn phương vị la bàn có nguồn gốc từ địa bàn, bát can, tứ duy, thập nhị chi đời Hán, lấy 24 hướng làm phương vị cơ bản. Nhưng có điều khác là, địa bàn Hán là hình vuông, nhưng thể bàn của la bàn lại phát triển thành hình tròn.

Phát minh ra la bàn là một sự biến đổi mang tính cách mạng, trong việc xác định phương hướng truyền thống của các thầy phong thủy. Loài người với nhu cầu bản năng sinh tồn, khi xây dựng chỗ ở đã có phương pháp dùng ánh nắng mặt trời để đoán hướng.

Từ đó, quay hướng nhà để đón ánh nắng, và hơi ấm từ ánh nắng mặt trời, qua đó phù hợp với nguyên tắc hướng về dương, và dự về âm. Về mặt thích ứng với khí tượng, loài người đã biết chọn hướng đón nhiều gió hơn.

Về mặt lựa chọn địa lợi, nhà cửa đa số là lựa chọn dựa vào núi và quay mặt về phía sông hồ. Cùng với sự phát triển của thực tiễn của loài người, phương pháp xác định phương hướng dần có nhiều sự cải tiến.

Phương pháp dùng gậy để đo bóng, qua đó xác định phương hướng, đã được ghi chép cụ thể trong các thủ tục có phương pháp xác định phương hướng không ngừng được cải tiến, từ đơn giản như dùng gậy xem ảnh, xác định bóng mặt trời, đến các phương pháp càng ngày càng tỉ mỉ và chính xác.

Phương pháp dựa vào mặt trời để xác định phương hướng, dường như phát triển song song cùng với phương pháp phong thủy dùng địa từ, để xác định phương hướng.

Do la bàn cổ đầu tiên được mài giũa từ đá thiên nhiên, từ tính yếu, lực ma sát khi tiếp xúc với mặt đĩa lớn, hiệu quả không cao. Vì vậy, không được ứng dụng rộng rãi. Đến thời nhà Tống, mọi người bắt đầu từ hóa kim sắt, phát minh ra kim chỉ nam.

Đây là một cuộc cách mạng so với lần gia công đá từ thiên nhiên. Với mục đích xác định phương hướng, nên rất nhanh đã được sử dụng trong việc chỉ hướng cho các thuyền bè đi trên biển. Kim chỉ nam đã trở thành một công cụ quan trọng để các nhà hàng hải Trung Quốc chinh phục đại dương, và mang văn minh cổ đại của Trung Quốc đến toàn thế giới.

Cuối thế kỷ 12, hoặc đầu thế kỷ 13, phát minh vĩ đại này bắt đầu được truyền sang phương Tây, trở thành tiền đề tất yếu của sự phát triển giai cấp tư sản, mở rộng thị trường thế giới và xây dựng nên mảnh đất thực dân. Từ đó, ảnh hưởng sâu sắc đến tiến trình lịch sử của xã hội loài người.

2. Nguyên tắc phong thủy phương hướng và 25 tầng của la bàn.

Lý thuyết phong thủy cho rằng, mục đích chính của việc chọn phương hướng cho nhà ở, là tìm nguồn khí và sự cân bằng âm dương. Sự đánh giá về phương hướng cần phải tổng hợp năm sinh của con người.

Dựa vào sự biến đối của quẻ, sinh, khắc, chế, hóa của âm dương ngũ hành, mà luận đến được mất về cát hung. Nhiều nội dung bên trong này, được phản ánh trên la bàn. Ngoài ra, còn có một số phần mà không thể thể hiện trên la bàn. Rõ ràng la bàn là nơi tập trung hai khí âm dương, thuyết bát quái ngũ hành, các số hà đồ lạc thư, các hình thiên tinh quái tượng.

Nhưng có nhiều cách nói, nhưng nói về ngũ hành, thì có lão ngũ hành, song sơn ngũ hành, tiểu huyền không ngũ hành, hồng phạm ngũ hành, túc sung ngũ hành, nhưng tựu trung lại đều là sự sắp xếp, các mối quan hệ không giống nhau của năm yếu tố Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ lại với nhau. Nhưng bát quái có tiên thiên bát quái, hậu thiên bát quái.

Tính quan trọng của phương hướng sơn thủy, được khái quát thành một câu cách ngôn phong thủy như sau: “cát sơn tự cát vị, cát thủy hướng hung phương”. Trong đó, “cát vị” và “hung phương” chỉ có thể dùng la bàn mới có thể kiểm nghiệm được.

Vì thế, cần thảo luận một chút về tính chất, và công dụng của la bàn phong thủy. Hiện nay, có rất nhiều loại la bàn phong thủy, đơn giản chỉ có mấy vòng, loại phức tạp có tới hàng chục vòng.

Số lượng tầng vòng không giống nhau, có thể thấy mỗi vòng có một công dụng khác nhau. Hơn nữa, vòng nào quan sát địa điểm nào là rất quan trọng. Sự khác biệt này, còn cho thấy các nhà phong thủy dân gian muốn xác định chính xác nhà ở âm dương, không cần xác định tỉ mỉ phương hướng. Loại hình la bàn vừa là số lại không phải là số, có loại chỉ có 2 vòng đến 3 vòng, có loại có đến bốn mươi mấy vòng.

– Tầng thứ nhất: Thiên Trì

Cấu tạo của la bàn không giống nhau, có loại nước và loại khô. La bàn nước là một chiếc kim từ đặt vào trong phần bụng của một miếng gốc hình con cá, miếng gỗ trôi nổi trên một đĩa nước, chuyển động tự do chỉ hướng Nam, đĩa nước này chính là hồ nước của trời (thiên trì).

Lý thuyết phong thủy cho rằng, kim chỉ nam chỉ Bắc Nam, trong hồ trời chứa nước vàng, động là dương, tĩnh là âm, kiểu “lưỡng nghị phân, tứ tượng phân, bát quái định” này, có thể thu hút hết những cái tiềm ẩn của trời đất.

– Tầng thứ 2: Tiên Thiên Bát Quái

Tầng này chỉ có tám quẻ, theo thứ tự không giống nhau, phân thành Tiên Thiên và Hậu Thiên. Bát quái dùng để biểu thị vị trí của 8 phương, mỗi phương vị cách nhau 45 độ, phương vị của bát quái tiên thiên là Càn Nam, Khôn Bắc, Li Đông, Khảm Tây, Chấn Đông Bắc, Đoài Đông Nam, Tốn Tây Nam, Cấn Tây Bắc.

– Tầng thứ 3: Hậu Thiên Bát Quái

Phương vị hậu thiên bát quái là Li Nam, Khám Bắc, Chấn Đông, Đoài Tây, Tốn Đông Nam, Cấn Đông Bắc, Khôn Tây Nam, Càn Tây Bắc.

– Tầng thứ 4: Địa Chi Thập Nhị Vị

Tầng này dùng địa chi thập nhị vị Tí Sửu Dần Mão Thìn Tị Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi. Mỗi phương vị cách nhau 30 độ, Ngọ chỉ Nam, Tí chỉ Bắc, Mãi chỉ Đông, Dậu chỉ Tây.

– Tầng thứ 5: Tọa Gia Cửu Tinh

Tọa gia có nghĩa là phương hướng và phương vị. Cửu Tinh là Tham Lang, Cự Môn, Liêm Trinh, Lộc Tồn, Văn Khúc, Vũ Khúc, Phá Quân, Tả Phụ, Hữu Bật. Trong đó, 7 sao đầu là chỉ bắc đẩu thất tinh, 2 sao còn lại là 2 sao di động, không thấy rõ nằm bên cạnh.

Nhưng khi bị mắt thường nhìn thấy, thì rất dễ nhận ra. Lý thuyết phong thủy cho rằng, khí thanh bay lên thành cao, khí đục rơi xuống thành sông suối. Vì thế, tại thiên thành tượng, tại địa thành hình, soi xuống 24 núi.

Sao có đẹp, xấu, đất có cát hung, 9 chòm sao trên trời di động, những nơi lệ thuộc vào chúng là cảm ứng. Gọi là 24 núi, là 24 phương vị là tứ duy, bát can, 12 chi, cửu tinh phối hợp với ngũ hành.

– Tầng thứ 6: Tên 24 Sao

Tầng này là 24 phương vị, 24 chòm sao phối hợp, giải thích quan niệm “thiên tinh hạ ứng”. Sự kết hợp của 24 chòm sao và 24 phương vị là:

Thiên hoàng hợi, thiên phù nhâm, thiên lũy tý, dương quang quý, thiên trù sửu, thiên thị cấn, thiên lư dần, âm cơ giáp, thiên mệnh mão, thiên quan ất, thiên cương chấn, thiên bính tỵ, thái vi binh, âm quyền ngọ, nam cực đinh, thiên thường mùi, thiên kính khôn, thiên quan thân, thiên hán canh, thiếu vi tày, thiên ất tân, thiên cứu càn.

Thiên hoàng tin tại hợi, thượng ánh tử vi viên, cấn ánh thiên thị viên, bính ánh thái vi viên, dậu ánh thiếu vi viên, 4 viên này là tôn quý nhất trong các thiên tinh, gọi Thiên Tinh Tứ Quý.

Cấn, Bính, Dậu hợp với nhau thành Tam Cát. Tốn, Dân, Đinh, Hợp với Bính, Canh, Dậu thành Lục Tú. Thiên bính ánh tỵ là cung đối của viên, gọi là đế tọa minh đường. Tỵ, Hợi hợp với lục tú thành Bát Quý. Trong “Tam Cát”, “Tứ Quý”, “Lục Tú”, “Bát Quý”, dương trạch đại vượng, gia đình thịnh vượng, giàu có đời đời.

– Tầng thứ 7: Địa Bàn Chính Châm

Trong la bàn có 3 kim, 3 bàn, là: địa bàn chính châm, thiên bàn phùng châm, nhân bàn trung châm. Bàn phân thành 24 cách, mỗi cách chiếm 25 độ, gọi là 24 Múi. Hai phương vị là tên gọi của 12 chi (Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi), can (giá phong thủy, Ất, Bính, Đinh, Canh, Thân, Nhâm, Quý), tứ duy (Càn quái, Cấn quái, Khôn quái, Tốn quái) hợp thành.

Từ châm chỉ ra: chính trung Tý Ngọ, gọi là chính nhâm, chỗ nối Nhâm Tý gọi là phùng châm, giữa Quý Tý và Đinh Ngọ gọi là trung châm.

– Tầng thứ 8: Tứ Thời Tiết Khí

Tầng này cho thấy 24 tiết khí trong một năm, là: lập xuân, vũ thủy, kinh trập, thanh minh, cốc vũ, lập hạ, tiểu mãn, mang chủng, hạ chí, tiểu thử, đại thử, lập thu, xử thử lộ, thu phân, hàn giáng, lập đông, tiểu tuyết, đại tuyết, đông chí, tiểu hàn, đại hàn.

Phong thủy cho rằng, dưới 24 múi phân thành 24 tiết khí. Lập Xuân bắt đầu Cấn, Đại Hàn bắt đầu Sửu, phân tam hậu thượng, hạ trung, tất cả có 72 hậu. Để rõ ràng lý luận tăng giảm âm dương, số thuận nghịch, thúc đẩy ngũ vận, lục khí.

– Tầng thứ 9: Xuyên Sơn Thất Thập Nhị Long

Tầng này dùng 60 giáp Tý, thêm bát can, tứ duy tạo thành 72 long. Bắt đầu, Nhâm Mùi của kim giáp Tý, 72 vị phân phối dưới 24 múi. Các nhà, thường dùng tầng này để tìm long, và nhìn thấu 60 long trong lòng đất, để tìm ra mạch của núi, xác định được tình trạng cát lợi hay hung của mảnh đất đó.

– Tầng thứ 10: Ngũ Gia Ngũ Hành

Ngũ gia ngũ hành là chính ngũ hành, song sơn ngũ hành, bát quái ngũ hành, huyền không ngũ hành, hồng ngũ hành. Các thầy phong thủy dùng phương pháp phong thủy tương sinh tương khắc của ngũ hành, phối hợp 5 phương vị đối ứng của ngũ hành, 4 mùa để luận phát sinh và tiêu diệt của âm dương, phán đoán tình hình long sa huyệt thủy.

Từ đó xác định được hung cát của đất ở. Ngũ hành tương sinh (Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim). Ngũ hành tương khắc (Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim).

– Tầng thứ 11: Thấu Địa Lục Thập Long Cát Hung

Tầng này là do Thái ở Sơn Tây, thời nhà Tống lập ra. Ông cho rằng, xuyên 72 long đoạn mà không liên tiếp, 60 long thiên kỷ doanh túc, tuy không gián đoạn nhưng khoảng cách không đều.

Chế tác la bàn trước đây, dựa vào 60 giáp tý phân bố đều dưới 24 múi, lấy đầu kim làm chuẩn, lấy Giáp Tý làm nhâm sơ của đầu kim, dùng để xác định sự thuần tạp của long.

– Tầng thứ 12: Bình Phân Lục Thập Phân Kim Cát Hung

60 giáp tý phân chia đều trong la bàn, dải dưới nó là một quẻ, sự sắp xếp thứ tự của các quẻ, tức là trước tiên là từ viên đồ 64 quẻ của thiệu tử, đến tứ chính quái càn khôn khảm ly.

Tác dụng của quái này là chuyên luận cửu lục xung hòa, xung hòa giả, sự kết hợp âm dương. Lý luận phong thủy cho rằng, quẻ của tọa huyệt, quẻ ngoài của nó có được sự xung hòa của các quẻ chấn, cấn, tốn, đoài, những quẻ càn, khôn, khảm là không xung hòa.

– Tầng thứ 13: Chính Kim Nhất Bách Nhị Thập Phân Kim

Tầng này là phân chia đều 60 Giáp Tý thành 120 phân kim, ở dưới 24 múi của chính kim. Giáp Tý của nó ở giữa Nhâm Tý Bính Ngọ của la bàn. Mỗi chi của Giáp Tý là 10 vị. Giáp phong thủy ất nhâm quý là cô hư, bính đinh canh tân là vượng tướng, mậu kỷ là quy giáp không vong.

– Tầng thứ 14: Nhâm Bàn Lại Công Trung Châm

Lại Công là tác giả của cuốn Thôi Quan Biên, tên thật là Lại Văn Tuấn, là người sáng tạo ra Trung Châm vào thế kỷ 12. Trung châm ở giữa Tý Quý Ngọ Đinh, lấy người làm linh hồn của vạn vật, kết hợp với trời đất thành tam tài, 24 múi trong trung châm cổ gọi là nhân bàn.

– Tầng thứ 15: Thiên Kỷ Doanh Tu Long

60 long doanh tu, theo như sử sách thì được truyền từ nhà toán học đầu đời Đường, Khâu Đình Hán, độ rộng hẹp của thiên tinh thượng ứng là không đồng đều, có những Giáp Tý vượt quá 7 đến 8 độ, thậm chí là 10 độ, cũng có Giáp Tý vượt quá 3 đến 4 độ, hoặc 5 độ. Lý luận phong thủy cho rằng đây là Khí Nghênh Thiên (khí hướng về trời, nghênh đón trời).

– Tầng thứ 16: Thiên Bàn Dương Công Phùng Châm

Tầng này là do Dương Quân Tùng đời Đường sáng tạo ra, vì kim chỉ ở chỗ chia Nhâm Tý Bính Ngọ, nên gọi là Phùng Châm (kim đầu). Các nhà phong thủy dùng la bàn này để xác định long.

– Tầng thứ 17: Đầu 120 Phân Kim

Tầng này tương tự như tầng 13, nhưng hơi dịch về hướng Đông, la bàn này được làm trong 24 múi, từ đầu kim chỉ Nhâm trở đi, giúp kim chính phân kim.

– Tầng thứ 18: Địa Nguyên Quy Tàng Quái

Trong 64 quẻ, bốn quẻ chính Càn, Ly, Chấn, Đoài phân phối 4 mùa, là 24 hào ứng 24 khí. Ví dụ Đông Chí tại Càn, 6 vạch Càn quản 6 khí, thu phân tại Đoài, 6 vạch đoài ở thu phân quản 6 khí, hạ chí tại quẻ Ly, 6 vạch ly ở hạ chí quản 6 khí, xuân phân tại Chấn, 6 vạch chấn ở xuân phân quản 6 khí.

Mỗi vạch quản 15 ngày, mỗi quẻ quản 90 ngày, 4 quẻ quản 360 ngày, một tuần. Còn lại 60 quẻ phân 12 ngày, 4 quẻ chính phân vạch 4 mùa 24 khí.

– Tầng thứ 19: Nhị Thập Bát Tú

Tầng này thể hiện vị trí của 28 chòm sao, và khoảng cách theo số độ. La Kinh Giải Định đã ghi lại: giác túc 12 độ; cang túc 9 độ; thị túc 16 độ; phòng tú 5,5 độ; tâm túc 6,5 độ; vĩ túc 19 độ; cơ túc 10,5 độ; đẩu túc 25 độ; ngưu túc 7 độ; nữ túc 11 độ; hư túc 9 độ; nguy túc 15,5 độ; thất túc 17 độ; bích túc 8 độ; quỳ túc 16,5 độ; ủy túc 11 độ; vị túc 15,5 độ; ngang túc 11 độ; tốt túc 17,5 độ; chủy túc rất nhỏ; tham túc 11 độ; cảnh túc 33 độ; quỷ túc 2 độ; liễu túc 13 độ; tinh túc 6 độ; trương túc 17 độ; dực túc 18 độ; trân túc 17 độ. Tất cả hợp với nhau lại thành 365 độ và ¼ độ.

– Tầng thứ 20: Thiên Nguyên Liên Sơn Quái

Trong 64 quẻ, ngoài 4 quẻ chính Càn Khôn Khảm Ly ra, thì 60 quẻ còn lại phân làm 60 Giáp Tý, một tuần 365 độ, quẻ hạ là hư, quẻ bác là nguy dương. Các thầy phong thủy căn cứ vào 360 vạch để đoán việc lành hay dữ. Vạch lành dùng khoanh màu trắng, vạch dữ dùng khoanh màu đen để tiện xác định.

– Tầng thứ 21: Nhân Nguyên Chu Dị Quái

Trong 64 quẻ hậu thiên, lấy quẻ Lôi Phong Hỏa, Địa Trạch Thiên Thủy Sơn thêm vào trước quái vị của Hậu Thiên. Ngoài bốn quẻ Càn, Khôn, Ly, Khảm thì lấy 60 quái còn lại để phối với Lục Thập Giáp Tý, dùng các hào tượng để ứng vận với ngày và dùng nó để nghiệm việc lành dữ sa vị lưu thần, chủ yếu dùng trong tướng mộ.

– Tầng thứ 22: Hỗn Nhiên Tinh Độ Ngũ Hành

Trong 28 chòm sao của tầng này, trong mỗi chòm đều phân thành ngũ hành, để phối hợp thành 60 Giáp Tý, Kim 12, Mộc 13, Thủy 12, Hỏa 12, Thổ 12. Tất cả có 61 vị, kết hợp với nạp âm của các sao làm thể dụng. Ví dụ như Giáp Tý nạp âm thuộc Kim, quản thất túc 5,6,7,8,9,10 tất cả có 6 độ là thuộc Kim, đây là cát lợi.

– Tầng thứ 23: Hỗn Thiên Tinh Độ Cát Hung

La kinh giải đinh viết: “Phàm là 24 múi phân chia, một dải trong đầu can chi là tiểu không, một dải trong bát can tứ duy là đại không, một dải trong 12 chấn là sai số, điều này rút ra từ chính kim”.

– Tầng thứ 24: 12 Cung Phân Dã

Trong 28 chòm sao phân thành 12 cung. Trên trời là 12 tầng, dưới đất là 12 phương, phối hợp các vùng của Trung Quốc với các chòm sao là khu vực trên trời. Hồ Quốc Trinh nói trong cuốn La Kinh Giải Định viết:

“Hợi ở cung Song ngư, nên Vệ ở Tịnh Châu. Tuất ở cung Bạch Dương, nên Lỗ ở Từ Châu. Dậu ở cung Kim Ngưu, nên Triệu ở Ký Châu. Thân ở cung Âm Dương, nên Tấn ở Ích Châu. Mùi ở cung Cự Giải, nên Tần ở Ung Châu. Ngọ ở cung Sử Tử, nên Chu ở Tam Hà. Tỵ ở cung Song Nữ, nên Sở ở Kinh Châu. Thìn ở cung Thiên Súng, nên Trịnh ở Cồn Châu. Mão ở cung Thiên Yết, nên Tông ở Dự Châu. Dần ở cung Nhân Mã, nên Yên ở U Châu. Sửu ở cung Ma Kết, nên Ngô ở Dương Châu. Tý ở cung Ngọc Bình, nên Tề ở Thanh Châu”.

– Tầng thứ 25: Cầm Tinh Giới Vị

Tầng này thể hiện vị trí của 28 chòm tinh tú trên thiên thể, dùng ngũ hành và tên các loài chim cùng với 28 chòm sao để phán lành dữ, gọi là cầm tinh.

Như đã nói ở trên, trong la bàn có tác dụng chủ yếu của 4 tầng là thể hiện phương vị. Tầng thứ 2 dùng quẻ thiên thể hiện vị trí 8 phương. Tầng thứ 3 dùng: hậu thiên thể hiện vị trí 8 phương. Tầng thứ 4 dùng 12 địa chi thể hiện 12 phương vị. Tầng thứ 5 chia 12 phương vị thành 24 phương vị.

Sự phát triển của lý pháp lúc đầu là phương pháp ngũ âm, ngũ tính để xác định chiều hướng của chỗ ở, phương pháp này dựa vào ngũ hành sinh khắc. Theo họ của bạn, phát âm của họ, cuối cùng là thuộc âm nào trong các âm: quan, thương, giác, vi, vũ, kết hợp với phương hướng của cổng lớn mới luận được cát hay hung.

Vì thế, mới nói bản thân nhà không có tính quyết định cát hay hung, mà phải xem người nào đến ở. Ví dụ, như cùng một mảnh đất tốt, người họ Trần ở không tốt, nhưng người họ Lê ở lại tốt.

3. Ngũ âm ngũ tính pháp.

Người xưa cho rằng, người chịu sự khống chế của vũ trụ, người và vũ trụ mà hợp nhau thì thịnh vượng. Nếu không hợp thì tử vong, nhược bại, đây là tính quan trọng của la bàn phương vị.

Vũ trụ có không gian và thời gian, còn chứa đựng vạn sự vạn vật, chúng đang biến hóa vô cùng. Kim chỉ nam quyết định phương vị có nghĩa là bao hàm không gian đặc biệt. Trái đất quay quanh mặt trời 1 vòng là 1 năm, 1 độ là 1 ngày, nó vận hành liên tục không ngừng nghỉ.

Để biểu thị vạn sự vạn vật trên trái đất, cổ nhân dùng Nhâm Quý thủy phía Bắc trên la bàn, biểu thị cho mưa gió, mây mù. Giáp Ất mộc biểu thị cho thực vật. Bính Đinh hỏa phía Nam tượng trưng cho ngày đêm ánh sáng. Canh Tân kim phía Tây biểu trưng cho khoáng vật, Đông Bắc và Tây Nam, Cấn Khôn đều là thổ.

Một quẻ tượng trưng cho sơn mạch, một quẻ tượng trưng cho đồng bằng. Quẻ Đoài của phía Tây biểu trưng cho đại dương và ao đầm. Quẻ Chấn ở phía Đông biểu trưng cho sấm. Trái đất chỉ là một phần của vũ trụ, ngoài trái đất còn có vô số tinh thể đang vận hành không ngừng.

Người xưa đã dùng nhiều tinh tú để đại diện cho vô số tinh cầu, sau đó là dùng quẻ Càn để thống lĩnh toàn bộ thiên thể, dùng nguyên lý căn bản của tương sinh tương khắc, tương kế tương thành của ngũ hành để tượng trưng cho sự biến hóa vô cùng của vạn vật trong vũ trụ.

Mộc là chủ xuân phía Đông, Hỏa là chủ hạ phía Nam, Thổ là chủ bốn mùa trung ương, Kim là chủ phía Tây, Thủy là chủ Đông phía Bắc. Từ cổ xưa đến nay, loài người không ngừng tìm tòi hiểu biết vũ trụ, xã hội và loài người.

Do động cơ khám phá này, mà con người đưa ra rất nhiều cách giải thích khác nhau đối với sự vận hành của các vì tinh tú, sự biến chuyển của 4 mùa, sự phát sinh của thiên tai và địch họa.

Những giải thích này, mang tính chất mê tín và không có cơ sở khoa học, mang làu sắc thần thoại. Nhưng những cách giải thích này, lại chứa đựng những kinh nghiệm trong cuộc sống của người xưa.

Như sự hình thành của 24 tiết, dùng cách đi vòng để giải thích sự cấu tạo của tự nhiên. Ứng dụng của la bàn phong thủy, có phải là do con người cảm nhận được ảnh hưởng của từ trường đối với tâm sinh lý con người?

Bản thân con người là từ trường, thậm chí những vật thể không có sự sống cũng mang từ trường. Hơn nữa, khoảng cách khác nhau tạo ra từ trường không giống nhau. Trong phong thủy, tuy rằng chưa đề cập tới hai chữ “từ trường”, nhưng có nói đến sự phối hợp giữa phương hướng, phương vị và khoảng cách.

Những điều này vô tình trùng khớp với từ trường. Mặt khác, bề mặt trái đất là từ trường lớn, bên trên và bên dưới sự thay đổi của từ trường, đều có mối quan hệ mật thiết. Bên trên chỉ mặt trời, mặt trăng, sao. Bên dưới chỉ địa hình.

Lực từ của đồng bằng tương đối yếu và ổn định. Từ trường của vùng núi hay địa hình phức tạp mạnh, nhưng không ổn định. Lực từ quá mạnh, không có lợi cho sức khỏe cơ thể và tất cả sinh vật.

Vì vậy, lựa chọn nơi có từ trường tốt với cơ thể con người là rất quan trọng. Phong thủy phải chăng là phản ánh nhận thức của con người về từ trường bề mặt trái đất. Vấn đề này, đáng để con người nghiên cứu và tìm hiểu thêm trong những năm về sau.

Tuệ Duyên

Xem thêm bài viết: 10 phương pháp và 10 nguyên tắc quan trọng của phong thủy

Bạn đang xem bài viết:
Phương hướng và la bàn phong thủy như thế nào?
Link https://myhocdaicuong.com/phong-thuy/phuong-huong-va-la-ban-phong-thuy-nhu-the-nao.html

Các tìm kiếm có liên quan: Cách xem la bàn phong thủy trên điện thoại. Công cụ xác định phương hướng chính xác nhất. Hướng dẫn cách dùng la bàn phong thủy chính xác nhất. Hướng dẫn đo hướng nhà bằng la bàn phong thủy. La bàn phong thủy theo tuổi 4+.

Các tìm kiếm có liên quan: La bàn phong thủy theo tuổi. La bàn phong thủy Việt Nam. La bàn phong thủy xem hướng nhà. Mở la bàn phong thủy. Tải la bàn phong thủy miễn phí. Tải la bàn phong thủy theo tuổi. Tải la bàn xem hướng. Ứng dụng la bàn phong thủy xem ngày tốt xấu. MyHocDaiCuong.com Xác định hướng nhà tốt xấu chưa đầy 1 phút.

Chia sẻ bài viết:
error: