Hầu như bất kỳ ai cũng có thể cầm một chiếc máy ảnh lên, bấm một cái, và tạo ra một hình ảnh có thể nhận dạng được. Thực tế, thì việc tạo ra một bức ảnh có vẻ dễ dàng đến mức.
Khiến ta nghĩ những bức ảnh chính là thế giới thực, được thu nhỏ lại ngay lúc bức ảnh được chụp, và đương nhiên sự giống nhau, đó chính là điều làm cho nhiếp ảnh trở thành phổ biến và hữu dụng.
Tuy nhiên, nếu xem xét kỹ các bức ảnh, thì ta thấy rằng, chúng rõ ràng là không phản ánh thế giới thực. Và những bức ảnh cũng không trình bày sự vật chính xác như chúng ta nhìn thấy.
Chúng ta, hãy xem xét cách chúng ta nhìn sự vật và cách hình thành hình ảnh của máy ảnh. Dù mắt người và máy ảnh được xây dựng trên cùng nguyên tắc, chúng lại hoạt động khác nhau.
Đôi mắt ta không tạo ra một hình ảnh nào trong đầu, mà chỉ tạo ra những dạng thức tác động thần kinh trong bộ óc. Thị giác của chúng ta là một cặp ống nhòm cho phép ta cảm nhận sự vật theo ba chiều, chứ không phải hai.
Còn các máy ảnh hầu hết chỉ có một ống kính ghi hình duy nhất, và do đó chỉ tạo ra được những hình ảnh phẳng hai chiều. Giữa hoạt động của con mắt và máy ảnh, còn có những dị biệt khác ít rõ rệt hơn.
Chúng ta nhìn sự vật theo cái chúng ta cho là màu sắc tự nhiên, còn máy ảnh ghi nhận hình ảnh theo những sơ đồ ba màu cố định, hay chỉ là đơn sắc (trắng đen). Những bức ảnh chỉ có thể tương cận với cảm giác màu sắc của con người, chứ không bao giờ là bản sao y hệt.
Đôi mắt ta liên tục chuyển động, để cho ta ghi nhận một tầm nhìn (field of view) rất rộng. Nhưng vào mỗi thời điểm nhất định, chúng ta chỉ thấy một phần của tầm nhìn, và mỗi phần chỉ được thấy trong tích tắc.
Chúng ta sử dụng toàn bộ thị giác để xác định cách bài trí chung của cảnh vật, nhưng lại dùng vùng thị giác chính giữa, vốn rõ ràng hơn, để tập trung vào những khu vực nhỏ nào đó, mà ta cảm thấy quan trọng hơn.
Muốn thấy rõ toàn bộ đôi mắt, phải di động thật nhanh, để đưa từng thành phần quan trọng trong tầm nhìn vào vùng thị giác chính giữa. Ngược lại, hình ảnh của máy ảnh thường được tạo ra tức thì.
Nói cách khác, mọi thành phần của hình ảnh đều được tạo ra đồng loạt trong một khoảng thời gian ngắn ngủi. Thực tế, thì tiến trình ấy đã được hình tượng hóa bằng thành ngữ nhiếp ảnh khoảnh khắc bấm máy.
Khác với mắt người, máy ảnh khi cần thiết có thể tụ ánh sáng yếu trên phim, cho đến khi đủ tạo ra một hình ảnh có thể tráng rọi được. Thực tế là máy ảnh có thể ghi nhận hình ảnh, trong những tình huống gần như hoàn toàn là bóng tối, những tình huống mà mắt người không thấy rõ, hoặc không thể nhìn thấy gì cả.
Con mắt ta chỉ nhìn thấy một thành phần đang biến đổi trong thời gian thực, nhưng máy ảnh có thể lưu giữ mãi mãi một hình ảnh duy nhất. Máy ảnh còn có thể kết hợp nhiều hình ảnh liên tiếp nằm chồng lên nhau, để tạo ra một ấn tượng duy nhất.
Bằng cách thay đổi thời gian và nhịp độ phơi sáng trên phim, máy ảnh không những có thể chặn đứng thời gian, mà còn có thể nén chặt hay bành trướng thời gian nữa. Nhờ đó, mà ta có thể khám phá ra một thế giới hình ảnh, mắt người chưa từng thấy qua cách sử dụng máy ảnh, nếu biết điều khiển.
Cái máy ảnh cũng không biết phân biệt. Không có sự dẫn dắt của con người, thì máy ảnh không biết cái gì là quan trọng trong tầm nhìn của nó. Với những người chụp ảnh bình thường, thì điều này không có vấn đề gì, nhưng với việc tạo hình ảnh nghiêm túc hơn, thì ta phải nhìn nhận rằng:
Nếu không có sự điều khiển cố tình, thì chiếc máy ảnh sẽ thể hiện cả những điều trọng đại lẫn những điều vụn vặt, với sự chính xác và sức mạnh như nhau. Vì thế, sự chọn lựa chính là trách nhiệm của người cầm máy ảnh. Việc chọn lựa ấy đòi hỏi thị giác, cái giúp ta nhìn, và sự thông tuệ, và cái giúp ta thấy.
Nhìn và thấy là hai việc khác nhau. Nhìn là một bản năng sử dụng thị giác, chúng ta ai cũng biết nhìn. Nhưng thấy bao hàm việc nhìn với một nỗ lực để hiểu biết cái ta đang nhìn.
Muốn thấy, ta cần có một mức độ cảm thông nào đó, một mức độ dò dẫm tìm kiếm trong bất cứ điều gì ta kinh qua, để chúng ta có thể nhận ra và thấu hiểu sự việc một cách hữu hiệu hơn.
Như vậy, việc thấy đòi hỏi một nhận thức về những gì trải ra trước mắt ta, và nhận thức đó lại buộc ta phải gạt bỏ những ý niệm có sẵn về sự việc trước mắt, để nhìn sự việc với một đầu óc vô tư và một con mắt trong sáng.
Tiến trình này, ta gọi là cảm nhận, phần lớn là một chuỗi hành động không đòi hỏi ở ta nhiều nỗ lực ý thức, nhưng nó lại bị điều kiện hóa bởi toàn bộ hệ thống giá trị con người, những niềm tin, thành kiến, quan điểm, và kinh nghiệm của chúng ta.
Vì chúng ta là con người, mọi yếu tố đó luôn tác động đến cách chúng ta cảm nhận sự việc mà chúng ta đang nhìn, và vì mỗi người đều có những giá trị khác nhau. Cho nên, không hề có hai cá nhân nào lại cùng cảm nhận sự việc y hệt như nhau.
Điều này cho thấy rằng: tuy máy ảnh có khả năng ghi hình mọi sự việc xảy ra trong tầm nhìn của nó với sự nhấn mạnh và rõ rệt như nhau, thị giác con người lại có tính chọn lọc hơn.
Chúng ta nói chung nhìn thấy những gì chúng ta muốn thấy, những gì tâm tư chúng ta cho phép ta thấy; và cái “thấy được” đó lại thay đổi không ngừng theo những bài học kinh nghiệm mà ta học được từ đời sống.
Do đó, máy ảnh chính là một công cụ tuyệt vời để mài sắc cảm nhận của ta, để tăng cường nhận thức của ta, và để khai mở “con mắt thứ ba”: con mắt của tâm tưởng.
Nhiếp ảnh là gì?
Hình ảnh của máy ảnh khác với hình ảnh của thị giác con người như thế nào thì nhiếp ảnh cũng khác với mọi hình thức tạo hình và các bức ảnh cũng khác với thế giới thực đã tạo ra chúng như vậy. Nhiếp ảnh phụ thuộc vào ánh sáng.
Ngay cái từ “photography” – do nhà khoa học Anh Quốc Sir John Herschel sử dụng lần đầu tiên năm 1839, theo gốc La-tinh cũng có nghĩa là “vẽ bằng ánh sáng”. Trong nhiếp ảnh, ánh sáng “vẽ” bằng cách làm biến đổi một số yếu tố nào đó của các vật liệu nhạy cảm với ánh sáng.
Ánh sáng do đó chính là tác động vật lý để sáng tạo hoặc tái tạo hình ảnh, và bởi vì cần phải có các chất liệu nhạy quang, cả hai yếu tố này sẽ cùng tác động đến những đặc tính quan trọng của nhiếp ảnh.
Có lẽ điều quan trọng nhất trong những đặc tính ấy là sự liên tục của sắc độ (continuous tone). Sự liên tục của sắc độ trong nhiếp ảnh là khả năng ghi nhận những thay đổi từ nhạt đến đậm – từ trắng qua đen – mà không để lộ ra những bước chuyển tiếp.
Nói cách khác, nhiếp ảnh có thể tạo ra một số lượng hầu như vô hạn các giá trị hay sắc độ xám (shade of gray) nhờ cách phản ứng với ánh sáng của mọi chất liệu nhiếp ảnh. Giống như bản thân hình ảnh, dải sắc độ liên tục này được hình thành tức thì; trừ video ra thì không có phương tiện tạo hình nào có thể sánh được nhiếp ảnh ở phương diện này.
Hình ảnh của máy ảnh thường được tạo bằng một ống kính; ống kính này dùng để thu gom và hội tụ các tia sáng. Các ống kính có thể tạo ra hình ảnh hết sức chi tiết, và các đặc tính này của nhiếp ảnh đã đóng góp cho ngôn từ của chúng ta một thành ngữ.
Khi ta nói một bức tranh hay bức vẽ nào đó “giống như ảnh” là chúng ta đã đề cập tới cái ấn tượng về chi tiết vô hạn. Đặc tính này đương nhiên biến nhiếp ảnh trở thành phương tiện hữu hiệu và quý giá để chuyển tải những thông tin hình ảnh.
Một đặc tính quan trọng khác của nhiếp ảnh phát xuất từ tính chất của tiến trình tạo hình là khả năng sao chép vô hạn. Các dạng thức của hình ảnh nhiếp ảnh hầu hết được tạo ra đầu tiên trên một âm bản (negative) có sắc độ trái ngược với trật tự thông thường, và từ âm bản đó có thể tạo ra trở lại vô số các dương bản (positive) có các sắc độ đậm nhạt đúng theo trật tự.
Chúng ta có thể làm một dương bản hoặc nhiều bản sao chính xác mà không làm suy giảm hay phá hỏng hình ảnh gốc. Chúng ta cũng có thể thay đổi kích thước: các bản sao có thể lớn hơn hay nhỏ hơn bản gốc.
Và ngay cả trong một vài tiến trình nhiếp ảnh không dùng âm bản – nên được gọi là xử lý dương bản trực tiếp (direct-positive process) – thì hình ảnh cũng có thể chụp lại được và việc sao chép lại tiếp diễn.
Các máy copy văn phòng, đi đâu cũng thấy, được thiết kế trên nguyên tắc này. Cả công nghiệp in hiện nay cũng vậy. Các bản kẽm dùng để in cuốn sách này cũng được tạo ra bằng các phương tiện nhiếp ảnh.
Khả năng sao chép của nhiếp ảnh là một đặc tính quan trọng đến mức nó không những đã cách mạng hóa việc truyền thông và giáo dục mà còn làm biến đổi toàn bộ nền văn hóa của chúng ta.
Nhà văn Pháp André Malraux đã khẳng định rằng việc nghiên cứu lịch sử mỹ thuật trong thực tế chính là việc nghiên cứu các tác phẩm mỹ thuật có thể chụp ảnh được.
André Malraux nêu rõ: chúng ta chẳng mấy ai có khả năng tiếp xúc với với những tác phẩm mỹ thuật nguyên bản; chúng ta thường biết về chúng – giống như nhiều thứ khác – là nhờ các phiên bản sao chép bằng phương tiện nhiếp ảnh.
Tuy nhiên, mãi đến khi những cải tiến gần đây trong lĩnh vực nhiếp ảnh màu trở nên phổ biến thì người ta mới có thể tái hiện được đúng đắn những sắc độ tinh tế của những cửa sổ kính màu và những hoa văn ốp lát (mosaic) Byzantine.
Như vậy những ai đã nghiên cứu về loại hình mỹ thuật này qua văn bản hay các phiên bản không chính xác thì rõ ràng là họ không biết gì về nó cả.
Sử gia hiện đại Daniel Boorstin đã viết rất cụ thể về việc dùng hình ảnh (image) để thay thế cho thực thể (object) – điều mà ông xem là “Cuộc Cách Mạng Đồ Họa”.
Ông cho rằng nhiếp ảnh đã đóng một vai trò quan trọng để khích lệ việc truyền bá nhanh chóng những “sự kiện giả tạo” (pseudo-event) – chẳng hạn như những “sự kiện truyền thông đại chúng” – để thay thế sự việc thật, và bản sao của thực thể và kinh nghiệm thay thế cho cái nguyên thủy, chính gốc.
Và ở mức độ cao hơn nữa, bản sao nhiều khi còn được đánh giá cao hơn bản chính! Điều này thấy rõ nhất trong lĩnh vực kinh doanh và dịch vụ: khắp nơi bắt chước nhau bán cùng một món hàng y hệt, không có gì khác biệt (ngoại trừ giá cả). Sao chép loạn xạ như vậy không chỉ giới hạn trong lĩnh vực ấn phẩm, nó đã trở thành một đặc tính của nền văn hóa hiện đại.
Nhiếp ảnh bắt nguồn từ hiện thực
Chỉ cần xem qua các bức ảnh là chúng ta có thể tin rằng nhiếp ảnh bắt nguồn từ hiện thực. Các nhà nhiếp ảnh ngày xưa đã nhận ra điều đó và tính hiện thực đã trở thành một tiêu chuẩn thẩm mỹ đắc dụng của họ.
Trong suốt một nửa thế kỷ, mức độ giống nhau giữa thực thể và hình ảnh đã là một tiêu chí chủ đạo để các nghệ sĩ nhiếp ảnh đo lường mức độ thành công của mình. Mức độ giống thực ấy đương nhiên cho phép ta dùng hình ảnh để thay thế cho bản thân thực thể, và đó là nguyên do chính mà ngày nay chúng ta chụp ảnh.
Khi bức ảnh trông giống cái thực thể mà nó mô tả thì bức ảnh đó mang tính tái hiện (representational). Ảnh chân dung, ảnh minh họa ca-ta-lô, ảnh dùng để quảng cáo và bán sản phẩm trong thương mại và công nghiệp – ngay cả những bức ảnh chụp nhanh bằng máy tự động – đều là những ví dụ tiêu biểu của những hình ảnh có tính tái hiện.
Những bức ảnh loại này được thực hiện để phục vụ cho nhu cầu tham khảo và lưu giữ dưới mọi hình thức. Xã hội ngày nay đã hình thành và phát triển một nhu cầu thiết yếu cho những bức ảnh như vậy và khó mà tưởng tượng rằng một xã hội hiện đại mà lại thiếu vắng chúng.
Vì những bức ảnh chụp bắt hiện thực rất tốt, chúng giúp chúng ta nhớ lại những sự việc đã đổi thay. Ký ức của ta tất nhiên không phải là tĩnh tại. Cách chúng ta quan sát sự kiện cũng thay đổi liên tục như chính các sự kiện ấy.
Nhờ có thể cô lập được từng khoảnh khắc thời gian và từng tầm nhìn, những bức ảnh có thể nhấn mạnh lịch sử và củng cố hồi ức của ta. Nghĩ cũng khôi hài, những bức ảnh có sức mạnh như vậy.
Đôi lúc tự thân chúng lại có thể có một ý nghĩa hiện thực tác động mạnh đến chúng ta hơn cả những sự kiện đã tạo ra các bức ảnh đó. Ngày nay chúng ta sử dụng hình ảnh theo nhiều phương cách đến độ chúng ta nghiễm nhiên chấp nhận chúng như là sự thật.
Nhiều khi chính chúng ta cũng hoài nghi cả hiện thực khi hiện thực không giống như những gì nhiếp ảnh đã tái hiện. Cụ thể nhất là khi chúng ta đi mua hàng hóa ở các siêu thị, ở đó chúng ta đánh giá các món hàng xem chúng giống bức ảnh màu quảng cáo về chúng đến đâu. Trong trường hợp này thì hiện thực chỉ trở thành sự thật ở mức độ mà nó giống với ảnh chụp!
Sáng tạo ảo tưởng
Khả năng của con người có thể hoán đổi giữa thực thể và hình ảnh chính là điều giúp ta hiểu được việc chụp ảnh có liên quan đến những yếu tố gì. Chụp một bức ảnh là một cách sáng tạo ra một ảo tưởng (illusion), và vì khả năng hoán đổi nói trên, việc một nhà nhiếp ảnh muốn phủ lấp những bức ảnh của họ trong một sự-thật-giả-tạo cũng không phải là điều khó thực hiện.
Một mặt, chiếc máy ảnh có thể thu gọn một khoảng thời gian dài trở thành một khoảnh khắc, đúc kết thành một bức ảnh duy nhất mà trong thực tế phải mất nhiều phút hay nhiều giờ để xảy ra.
Do đó máy ảnh có thể ghi nhận nhiều hơn khả năng cảm nhận của nhà nhiếp ảnh. Mặt khác, máy ảnh có thể bành trướng một khoảnh khắc trở thành một hiện thực mới chỉ nhìn thấy được trong hình ảnh.
Nếu cộng với tính liên tục về sắc độ và tính chi tiết tối đa thì bức ảnh chụp không những khác biệt hoàn toàn với mọi loại hình ảnh khác mà còn trở thành một loại hình ảnh có sức mạnh thuyết phục nhất.
Điều này đặt ra một trách nhiệm lớn cho những ai muốn tạo ra những hình ảnh chỉ toàn sự việc thật; bởi vì người ta dễ dàng chấp nhận những bức ảnh như vật là sự thật. Nếu sử dụng có trách nhiệm, nhiếp ảnh nhờ đó sẽ là một chứng nhân của công bằng và chân lý. Sử dụng vô trách nhiệm, nhiếp ảnh chỉ là một công cụ tuyên truyền.
Phân tích và tổng hợp
Vậy thì nhiếp ảnh khác với các hình thức tạo hình khác như thế nào? Một họa sĩ muốn tạo ra một ảo tưởng của hiện thực phải phác thảo hình ảnh trên một không gian chọn lọc rồi thêm vào màu sắc và chi tiết để cho phong phú hơn.
Người họa sĩ phải mường tượng hình ảnh của mình như là một chuỗi mảnh vụn rời rạc, sau đó tổng hợp hay xây dựng lên, từng thành phần một, thêm bớt, chỉnh sửa, làm chủ đề phức tạp dần lên đi tới trạng thái hoàn chỉnh cuối cùng.
Trong khi đó nhà nhiếp ảnh lại gặp vấn đề khác: Hình ảnh của họ thực tế lại được vẽ bằng vị trí của máy ảnh và ống kính; việc chọn lựa vị trí đặt máy và ống kính sẽ xác định hình ảnh.
Một khi đã chọn lựa xong thì công việc của nhà nhiếp ảnh bây giờ không phải là lấy cho đủ chi tiết mà là loại bỏ những chi tiết nào không cần thiết. Các nhà nhiếp ảnh thường bắt đầu với toàn bộ hình ảnh.
Giống như các họa sĩ, họ giới hạn tầm nhìn của mình bằng cách áp đặt một cái khung (frame) trên thế giới thực, nhưng rồi họ lại chọn lọc bên trong cái khung ấy bằng cách sử dụng ánh sáng và bóng tối để tạo ra cảm giác về hình khối và chất liệu cho thực thể; rồi loại bỏ những yếu tố không quan trọng cho đến khi chỉ còn lại ý tưởng hình ảnh mong muốn.
Cách làm việc của nhà nhiếp ảnh do đó, về cơ bản, mang tính phân tích hơn là tổng hợp. Nhiếp ảnh chắt lọc sự quan trọng từ sự hỗn độn và tạo ra trật tự, cấu trúc cho hình ảnh.
Cách tạo hình như vậy hoàn toàn trái ngược với cách tạo hình của hội họa cho dù nhà nhiếp ảnh và người họa sĩ có cùng mục đích trong đầu. Những bức tranh được tạo ra còn những bức ảnh được chụp bắt.
Nhiếp ảnh như một kinh nghiệm
Nhưng những bức ảnh cũng thể được tạo ra từ hiện thực nội tại của tâm tư và cảm xúc cũng như từ thực thể và sự việc của thế giới bên ngoài. Điều này rất quan trọng đối với các nhà nhiếp ảnh vì nó có thể giải thoát họ khỏi nhu cầu chụp một bức ảnh về một cái gì đó cụ thể; giống như các họa sĩ, các nhà nhiếp ảnh có quyền tạo ra những hình ảnh chỉ đơn thuần là hình ảnh.
Khi nhận ra rằng nhiếp ảnh dựa trên hiện thực nhưng không nhất thiết phải tái lập hiện thực, nhà nhiếp ảnh có thể mở toang cánh cửa dẫn tới vô vàn khả năng tạo hình và tận hưởng sự tự do sáng tạo mà các nghệ sĩ của các phương tiện truyền thống xưa nay vẫn được hưởng.
Như vậy nhiếp ảnh không phải lúc nào cũng minh họa cho một ý tưởng khác mà tự thân nhiếp ảnh có thể được trình bày như một kinh nghiệm.
Những bức ảnh không hề giống gì mấy với những sự vật tồn tại trước ống kính thường được gọi là những bức ảnh không mang tính tái hiện (nonrepresentational) hay trừu tượng (abstract).
Những bức ảnh như vậy dù có mô tả rõ một khung cảnh trong thế giới thực vẫn hàm chứa một mức độ trừu tượng; chúng đánh đố với tâm tư và cảm xúc của ta, buộc mỗi chúng ta phải xem xét chúng trong ánh sáng của óc tưởng tượng riêng tư.
Những gì mà mỗi người chúng ta thấy được trong những bức ảnh như vậy có thể phản ánh ý kiến của riêng ta cũng mạnh mẽ như là chúng bộc lộ ý kiến của những người khác.
Những tấm ảnh như thế đóng vai trò của một chiếc gương soi hơn là một khung cửa sổ; chúng có thể buộc ta phải dò dẫm lại tâm tư, tình cảm của mình, và thường là chúng kích động đủ loại phản ứng từ đủ loại người xem khác nhau.
Nhìn bằng con mắt nhiếp ảnh
Dù ta muốn những hình ảnh của mình mang chức năng, vai trò gì đi nữa thì ta cũng phải nghĩ tới hình ảnh trong phạm trù những gì mà công cụ và chất liệu của ta có thể thực hiện được. Nói một cách thực tiễn, chúng ta phải hiểu các chất liệu nhiếp ảnh và cách xử lý liên quan hoạt động ra sao để mường tượng ra hình ảnh của ta.
Nói theo nhà nhiếp ảnh bậc thầy Edward Weston thì đó là “nhìn bằng con mắt nhiếp ảnh,” một tiến trình trong đó chúng ta tập trung vào một thực thể hay quan sát một sự kiện, xác định xem ta muốn tạo ra loại hình ảnh nào từ thực tại đó, và rồi thấy được hình ảnh cuối cùng trong tâm trí trước khi bấm máy.
Tuy những bức ảnh lừng danh đôi khi là kết quả của một sự ngẫu nhiên hay duyên may, hầu hết chúng đều được sáng tạo ra bởi những nhà nhiếp ảnh có khả năng thấy được và hình dung trước hình ảnh sẽ ra sao.
Từ máy ảnh đi đến hình ảnh, từ kỹ thuật đi đến nghệ thuật, là mối tương quan trọng yếu của kinh nghiệm nhiếp ảnh. Thực thể có thăng hoa thành hình ảnh được hay không, có tạo được ý nghĩa đối với kẻ khác hay không thì điều đó hoàn toàn tùy thuộc vào bàn tay và con mắt của nhà nhiếp ảnh.
Trần Đức Tài
Xem thêm bài viết: Thực thể và hình ảnh trong nghệ thuật nhiếp ảnh
Bạn đang xem bài viết:
Thị giác con người và hình ảnh của máy tính
Link https://myhocdaicuong.com/nhiep-anh/thi-giac-con-nguoi-va-hinh-anh-cua-may-tinh.html
#myhocdaicuong #myhoc #nhiepanh