Skip to content

Thị trường du lịch chăm sóc sức khỏe trên thế giới và những vấn đề đặt ra cho du lịch Việt Nam

thi truong du lich cham soc suc khoe tren the gioi va nhung van de dat ra cho du lich viet nam

Du lịch chăm sóc sức khoẻ có vai trò quan trọng trong việc đa dạng hoá hệ thống sản phẩm, dịch vụ du lịch của một điểm đến. Đồng thời, thu hút thị trường khách du lịch là những người có khả năng chi tiêu cao, lưu trú dài ngày.

Thị trường du lịch chăm sóc sức khoẻ có những đặc điểm, quy mô khác biệt so với thị trường du lịch truyền thống thông thường. Phân tích và hiểu biết về thị trường du lịch chăm sóc sức khoẻ trên thế giới, và những xu thế mới trong tương lai sẽ giúp ngành du lịch Việt Nam, tận dụng lợi thế tài nguyên và cơ hội phát triển loại hình du lịch này hiệu quả, mang tính cạnh tranh cao.

1. Du lịch chăm sóc sức khoẻ là gì?

Khái niệm du lịch chăm sóc sức khoẻ được sử dụng rộng rãi trong thời đại ngày nay khi mà khách du lịch không chỉ có nhu cầu tham quan, nghỉ ngơi khi đi du lịch mà còn muốn được cải thiện sức khoẻ của mình trong chuyến đi.

Để xác định đúng khái niệm du lịch chăm sóc sức khoẻ, cần phải hiểu đúng “sức khoẻ” là gì. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã định nghĩa “sức khoẻ là trạng thái hoàn toàn khoẻ mạnh về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không chỉ đơn thuần là không có bệnh tật hay ốm đau”.

Tuy nhiên, điều này không được áp dụng vào thời điểm đó, nhưng tầm quan trọng ngày càng tăng của tinh thần đối với sức khỏe, thậm chí trong một số giới y khoa đã được nhấn mạnh.

WHO cũng đề cập đến con người phải thực hiện các vai trò trong gia đình, công việc và cộng đồng, họ sẽ phải đối phó với căng thẳng về thể chất, sinh học, tâm lý và xã hội, từ đó cần xác định mức độ mà họ có cảm giác hạnh phúc và trạng thái cân bằng với môi trường sống.

Năm 1973, Liên minh các Tổ chức Du lịch Chính thức Quốc tế (IUOTO; tiền thân của Tổ chức Du lịch Thế giới) tuyên bố rằng du lịch sức khỏe là “việc cung cấp các cơ sở y tế sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước, đặc biệt là nước khoáng và khí hậu”.

Một định nghĩa về du lịch sức khỏe khác là “[…] tổng hợp của tất cả các mối quan hệ và hiện tượng do sự thay đổi vị trí và nơi cư trú của khách du lịch nhằm nâng cao, ổn định và, nếu được, phục hồi sức khoẻ về thể chất, tinh thần và xã hội khi sử dụng các dịch vụ y tế tại nơi họ đang ở không phải là nơi cư trú hoặc làm việc lâu dài của người đó.”

Mặc dù định nghĩa của WHO về sức khỏe không sử dụng từ tâm linh, nhưng đối với nhiều nền văn hóa (đặc biệt là ở châu Á và Trung Đông), tâm linh thường được xem như một phần không thể thiếu hoặc thậm chí cơ bản của sức khỏe.

Nhiều công ty lữ hành (ví dụ: Skyros Holidays, Mystic Asia), các khách sạn chăm sóc sức khỏe, spa và khóa tu đang ngày càng cung cấp các hoạt động liên quan đến các thực hành tâm linh phi tôn giáo như yoga hoặc thiền định.

Vào năm 2017, tại phiên họp lần thứ 22 của Đại Hội đồng Tổ chức Du lịch Thế giới, tổ chức tại Trung Quốc, đã thừa nhận định nghĩa khuyến nghị cho du lịch sức khoẻ, du lịch chăm sóc sức khoẻ, du lịch y tế.

Theo UNWTO, du lịch sức khỏe bao gồm những loại hình du lịch có động cơ chính nhằm nâng cao sức khỏe thể chất, tinh thần và/hoặc tâm linh của khách du lịch thông qua các hoạt động y tế và sức khỏe thỏa mãn nhu cầu và các hoạt động của họ.

Để tốt hơn với tư cách là cá nhân trong môi trường và xã hội. Du lịch sức khỏe là thuật ngữ bao trùm cho các loại hình phụ: du lịch chăm sóc sức khỏe và du lịch chữa bệnh.

Du lịch chăm sóc sức khỏe là loại hình du lịch nhằm cải thiện và cân bằng tất cả các lĩnh vực chính của đời sống con người bao gồm thể chất, tinh thần, tình cảm, nghề nghiệp, trí tuệ và tâm linh.

Động lực chính cho khách du lịch chăm sóc sức khỏe là tham gia vào các hoạt động phòng ngừa, chủ động, nâng cao lối sống như thể dục, ăn uống lành mạnh, thư giãn, chăm sóc và chữa bệnh.

Các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cho khách du lịch thường bao gồm: Làm đẹp và chống lão hóa; Ăn uống lành mạnh, dinh dưỡng và giảm cân; Tập thể dục và trí óc; Du lịch chăm sóc sức khỏe; Phòng chống bệnh tật; Thuốc bổ sung và thuốc thay thế; Spa; Suối khoáng nóng…

Du lịch y tế là loại hình du lịch bao gồm một chuyến đi bên ngoài môi trường thông thường, trong nước hoặc quốc tế, để sử dụng các dịch vụ chữa bệnh (cả xâm lấn và không xâm lấn), có thể bao gồm chẩn đoán, điều trị, chữa bệnh, phòng ngừa và phục hồi chức năng.

Các dịch vụ du lịch y tế có thể gồm: Giải phẫu thẩm mỹ; Điều trị sinh sản (IVF); Chăm sóc nha khoa; Điều trị ung thư; Điều trị các bệnh về xương khớp, bệnh mắt, bệnh tim, bệnh về thần kinh; Phẫu thuật ghép tạng…

Tại Việt Nam, theo Luật Du lịch (2017), dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho khách du lịch là những loại hình dịch vụ do các tổ chức, cá nhân trên cơ sở khai thác giá trị y học cổ truyền, y học hiện đại cung cấp dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe nhằm phục vụ nhu cầu về nâng cao sức khoẻ thể chất, tinh thần của khách du lịch.

Do đó, Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe, chăm sóc sắc đẹp trên cơ sở khai thác giá trị y học cổ truyền, y học hiện đại.

Để đảm bảo việc quản lý chất lượng các cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cho khách du lịch, Luật Du lịch 2017 đã đưa ra yêu cầu về các cơ sở kinh doanh dịch vụ chăm sóc sức khoẻ đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch.

Trong khuôn khổ bài viết này, thuật ngữ du lịch chăm sóc sức khoẻ được sử dụng đồng nhất với định nghĩa du lịch sức khoẻ của UNWTO, bao trùm cả du lịch chăm sóc sức khoẻ và du lịch y tế.

2. Thị trường du lịch chăm sóc sức khoẻ trên thế giới và tác động của đại dịch Covid-19:

Cùng với xu thế phát triển của du lịch trong xã hội hiện đại, nhu cầu của con người không chỉ giới hạn ở việc đi du lịch để nghỉ ngơi, hưởng thụ khoảng thời gian nhàn rỗi.

Mà còn có mục tiêu về nâng cao sức khoẻ cả về thể chất và tinh thần. Vì vậy, ngành du lịch chăm sóc sức khoẻ thời gian qua cũng phát triển nhanh và vững chắc.

Bởi du lịch chăm sóc sức khoẻ dành cho đối tượng khách du lịch có khả năng chi tiêu khá cao và ở dài ngày, nên tổng thu từ khách du lịch của hoạt động này ở các quốc gia trên thế giới được ghi nhận khá ấn tượng.

Theo dữ liệu thương mại được báo cáo năm 2015 của một nhóm quốc gia (UNWTO, ETC, 2018), Mỹ là nước có thu nhập lớn nhất (3.600 triệu USD) và khách du lịch của quốc gia này chi tiêu (1.800 triệu USD) về du lịch quốc tế liên quan đến sức khỏe.

Thổ Nhĩ Kỳ đã tạo ra khoảng 900 triệu USD doanh thu trong năm 2015, trong khi khách du lịch đến từ Kuwait chi khoảng 1.600 triệu USD và Đức khoảng 900 triệu USD cho các chuyến du lịch quốc tế vì các mục đích liên quan đến sức khỏe.

Nhóm các quốc gia tạo ra doanh thu du lịch quốc tế liên quan đến sức khỏe từ 200 triệu USD đến 800 triệu USD như: Jordan, Pháp, Hungary, Bỉ, Thái Lan, Hàn Quốc, Costa Rica, Bỉ, Mexico, Cộng hòa Séc và Ấn Độ.

Trong số những nước chi tiêu nhiều nhất, Bỉ, Oman và Canada đã có báo cáo chi tiêu cho việc đi lại liên quan đến sức khỏe từ 400 triệu USD đến 600 triệu USD (UNWTO, ETC, 2018).

Những quốc gia có thu nhập ròng (doanh thu thu vượt quá chi tiêu) bao gồm Hoa Kỳ (1.800 triệu USD), Hàn Quốc (403 triệu USD), Pháp (334 triệu USD), Mexico (209 triệu USD), Cộng hòa Séc (123 triệu USD) và Vương quốc Anh (17 triệu USD).

Xuất khẩu du lịch sức khoẻ đóng góp vào cán cân thương mại du lịch, mặc dù thu nhập ròng tương đối khiêm tốn ở một số quốc gia.

Đối với nhiều nước OECD, đặc biệt là ở châu Âu, số liệu về xuất khẩu du lịch sức khỏe có thể vẫn bị đánh giá thấp đáng kể (UNWTO, ETC, 2018).

Để phân tích về thị trường du lịch chăm sóc sức khoẻ, cần đánh giá cả hai khía cạnh là cung và cầu của thị trường.

Về cung của thị trường du lịch chăm sóc sức khoẻ, xác định các loại hình dịch vụ chính (chăm sóc sức khoẻ và y tế) và các loại cơ sở cung cấp (bệnh viện/phòng khám, khách sạn/khu nghỉ dưỡng, spa, phòng tắm hơi…

Các điểm đến du lịch chăm sóc sức khỏe cung cấp hai loại dịch vụ chính: các dịch vụ, sản phẩm và cơ sở hạ tầng y tế/chăm sóc sức khoẻ; và các dịch vụ du lịch (hướng dẫn, lưu trú, vận chuyển và giải trí).

Đặc điểm về du lịch chăm sóc sức khoẻ của các khu vực trên thế giới được nhận định (UNWTO, 2018):

– Châu Âu: dẫn đầu về lịch sử và văn hóa tắm truyền thống và các suối nước nóng;

– Hoa Kỳ: là cường quốc về tập thể hình/thể dục thẩm mỹ;

– Châu Á: ngày càng phổ biến với nền y học Phương Đông và các trải nghiệm tổng thể, nuôi dưỡng tâm hồn;

– Châu Phi và Trung Đông: là những điểm đến mới nổi với thiên nhiên và động vật hoang dã, truyền thống cổ xưa và các bệnh viện hàng đầu.

Các nguồn lực và cơ sở vật chất được sử dụng cho du lịch sức khỏe rất khác nhau tùy theo loại hình du lịch và động cơ của khách du lịch.

Khách du lịch y tế có nhiều khả năng sử dụng bệnh viện và phòng khám, khách du lịch chăm sóc sức khỏe có nhiều khả năng đến các spa và khách sạn chăm sóc sức khỏe, và khách du lịch muốn cải thiện sức khoẻ toàn diện có nhiều khả năng tham gia các khóa tu/thiền.

Các điểm đến du lịch chăm sóc sức khỏe có cơ sở vật chất kỹ thuật dành riêng cho nhu cầu phục hồi sức khỏe như khu nghỉ dưỡng sức khỏe, phòng tắm hoặc nơi nghỉ dưỡng, khác với những hạ tầng du lịch thông thường như khách sạn, nhà nghỉ và nhà hàng.

Tuy nhiên, những ranh giới này dần mờ đi khi mà các spa cung cấp dịch vụ chữa bệnh (VD: phẫu thuật thẩm mỹ, nha khoa…), hoặc các bệnh viện gửi bệnh nhân đến nghỉ ngơi phục hồi chức năng tại các spa. Các phòng khám tư nhân và bệnh viện được coi là cung cấp du lịch y tế ‘thuần túy’.

Nhưng cũng có sự trùng lặp giữa du lịch chăm sóc sức khỏe và du lịch chữa bệnh trong các khóa tu tập lối sống trị liệu, spa truyền thống của Châu Âu (ví dụ: với nước nóng, nước chữa bệnh), ‘khách sạn y tế’, spa y tế và ‘bệnh viện chăm sóc sức khoẻ’ (bệnh viện kết hợp thuốc thông thường với các liệu pháp bổ sung và thay thế) (UNWTO, 2018).

Theo Tạp chí du lịch y tế quốc tế, tính đến năm 2017, đã có hơn 1.600 cơ sở khám chữa bệnh trên thế giới có cung cấp dịch vụ du lịch y tế (không bao gồm cơ sở cung cấp dịch vụ phẫu thuật thẩm mỹ, trung tâm thụ tinh trong ống nghiệm và nha khoa).

Trong đó, quốc gia có nhiều cơ sở y tế cung cấp dịch vụ du lịch y tế nhất là Ấn Độ (381 cơ sở), đứng thứ hai là Mỹ và Thổ Nhĩ Kì (212 cơ sở). Đối với dịch vụ thẩm mỹ và nha khoa, chưa có con số thống kê về số cơ sở phục vụ khách du lịch.

Bên cạnh đó, lĩnh vực khách sạn ngày càng tham gia nhiều hơn vào việc cung cấp các dịch vụ cho khách du lịch chăm sóc sức khoẻ, những người không muốn ở lại bệnh viện hoặc phòng khám khi điều trị.

Trong khi thực hiện một số biện pháp can thiệp như nha khoa hoặc (tiểu phẫu), khách du lịch có thể ở trong khách sạn hoặc căn hộ (gần phòng khám).

Trong các trường hợp khác, khách du lịch có thể ở trong một khách sạn y tế hoặc cái gọi là “Khách sạn thân thiện với du lịch y tế”.

Xu hướng mới trong lĩnh vực du lịch chữa bệnh là sự xuất hiện của khái niệm H2H (tức là chuyển đổi Bệnh viện thành Khách sạn hoặc Khách sạn thành Bệnh viện hoặc khách sạn y tế).

Các cơ sở mới này là sự pha trộn giữa các dịch vụ và chất lượng của bệnh viện, khách sạn và spa. Một khách sạn y tế sẽ cung cấp nhiều dịch vụ y tế, cũng như chăm sóc sức khỏe và spa – mà không cần bệnh viện, phòng khám hay viện điều dưỡng.

Về cầu là khách du lịch chăm sóc sức khoẻ, xác định động cơ chủ yếu của khách; sự khác biệt về văn hoá, quốc tịch; những phân khúc thị trường chính; và thị trường nguồn của dòng khách du lịch chăm sóc sức khoẻ.

– Yếu tố quyết định lựa chọn điểm đến du lịch chăm sóc sức khoẻ:

Động cơ chủ yếu lựa chọn điểm đến du lịch chăm sóc sức khoẻ của khách du lịch là giá cả hay khả năng chi trả được coi là yếu tố quan trọng nhất (đặc biệt đối với du lịch chữa bệnh), cũng như chất lượng sản phẩm, dịch vụ và môi trường.

Khả năng tiếp cận vị trí, cũng như sự sẵn có của các phương pháp điều trị không có sẵn ở nước sở tại hoặc nơi khác cũng rất đáng kể.

Danh tiếng và sự thành công của các bác sĩ hoặc nhân viên y tế cũng có thể thu hút thị trường khách du lịch tiềm năng.

Đặc biệt là thông qua truyền miệng, cũng như thông tin dễ dàng tiếp cận về địa điểm, sản phẩm và phương pháp điều trị. Một số yếu tố khác cũng được quan tâm như khí hậu, bầu không khí, truyền thống và nghi lễ (UNWTO, 2018).

– Phân khúc thị trường:

Phân khúc thị trường khách du lịch chăm sóc sức khoẻ được xác định dựa trên đặc điểm nhân khẩu học: tuổi, giới tính, thu nhập, quốc tịch, học vấn, văn hoá, tôn giáo.

Về tuổi tác, du khách cao tuổi có ít khả năng chi tiêu hơn nhưng lại có nhiều thời gian hơn và họ có thể gặp nhiều vấn đề về sức khỏe thể chất hơn.

Do đó, spa chữa bệnh hoặc du lịch trên biển có thể cung cấp hình thức thư giãn tốt nhất, mặc dù các vấn đề về vận động có thể cản trở khả năng đi lại của họ.

Người cao tuổi rất quan tâm đến việc duy trì một lối sống lành mạnh và một mức độ sinh lực nhất định trong thời gian dài sau khi nghỉ hưu. Dân số già ngày nay cũng có trình độ học vấn cao do ngày càng có nhiều thông tin cung cấp cho họ.

Thế hệ X (sinh: 1966–1976) có nhiều hiểu biết về cách sử dụng spa hoặc chăm sóc sức khỏe, thế hệ này bắt kịp xu thế với các dịch vụ spa mới nhất.

Do đó, nhu cầu ngày càng tăng đối với các spa là trả lời các câu hỏi chi tiết và rõ ràng về các dịch vụ của họ. Thế hệ X có xu hướng hoài nghi và áp dụng cách tiếp cận ‘chứng minh điều đó với tôi’ đối với các phương pháp điều trị và dịch vụ mới.

Thế hệ Y hay Millenials (sinh: 1977–1994) là những người có khả năng lớn lên với ý thức sức khỏe tốt hơn cha mẹ của họ. Định hướng xanh hoặc sinh thái ảnh hưởng đến phân khúc này và chủ nghĩa tiêu dùng cũng vậy.

Họ là những khách du lịch và người tiêu dùng tự tin và có kinh nghiệm, những người biết họ muốn gì và cần gì. Họ cảm thấy thoải mái với công nghệ hiện đại nhưng cũng đánh giá cao các phương pháp tiếp cận ‘truyền thống’ và có thể tận hưởng những lợi ích của lối sống chậm.

Thế hệ Z hoặc hậu thiên niên kỷ (sinh năm 1995–2012) là những người tiêu dùng hiện đại vì họ thường là những người có nhiều thông tin, di động, trực tuyến, thích mua sắm và tận hưởng cuộc sống.

Nhóm này nhận thức được spa là nhu cầu thiết yếu hàng ngày và không ngại thử ‘điều mới’. Hơn bất kỳ trường hợp nào khác, thế hệ này tập trung vào kết quả tức thì.

Mọi yếu tố chăm sóc sức khỏe trong khách sạn, spa và nơi nghỉ dưỡng, từ thức ăn lành mạnh đến các lớp thể dục để chữa bệnh tinh thần, được coi là quan trọng hơn đối với du khách trẻ từ 49 tuổi trở xuống so với nhóm 50 tuổi trở lên.

Trong khi các loại hình ưa thích cho nhóm 50 tuổi trở lên là các khu nghỉ dưỡng spa sang trọng, thế hệ X và trẻ hơn lại thích các khu nghỉ dưỡng sinh thái/phiêu lưu và các khóa tu/thiền/yoga đích thực.

Về giới tính, phụ nữ vẫn là thị trường mục tiêu quan trọng nhất của các dịch vụ du lịch chăm sóc sức khoẻ. Tuy nhiên, phân khúc thị trường ‘phụ nữ’ bao gồm các phân đoạn phụ rất riêng biệt, dựa trên nhu cầu hoặc giai đoạn cuộc sống của họ.

Phụ nữ, và đặc biệt là phụ nữ trung niên, bị thu hút đến các hoạt động spa, chăm sóc sức khỏe và tĩnh tâm. Họ có thể không hài lòng về cơ thể, đặc biệt là sau khi sinh con và ở tuổi trung niên, việc phải thực hiện các vai trò khác nhau.

Đặc biệt là người chăm sóc con cái trong khi làm việc, cũng như thời kỳ mãn kinh và những thay đổi này gây ra khiến họ có nhu cầu được chăm sóc, nghỉ ngơi để cải thiện sức khoẻ thể chất và tinh thần.

Về sự khác biệt văn hoá, tôn giáo, các vấn đề văn hóa là rất quan trọng trong du lịch chăm sóc sức khoẻ, đặc biệt là đối với những du khách quyết định quay trở lại đất nước có nguồn gốc của họ vì họ cảm thấy thoải mái hơn, hoặc đối với những người có sở thích và nhu cầu tôn giáo cụ thể.

Ví dụ như các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe nên cân nhắc một số yếu tố khi điều trị bệnh nhân Hồi giáo như chế độ ăn kiêng đặc biệt, vấn đề giới tính, thông tin về vị trí, hướng đến Mecca và vấn đề vệ sinh khu vực cầu nguyện.

Thị trường du lịch chăm sóc sức khoẻ trước tác động của đại dịch Covid-19: Theo dự báo của tổ chức nghiên cứu thị trường Data Bridge Market Research đưa ra trước thời điểm du lịch toàn cầu bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19.

Thị trường du lịch chăm sóc sức khỏe dự kiến sẽ tăng trưởng trong giai đoạn dự báo từ năm 2020 đến năm 2027. Thị trường này sẽ đạt doanh thu 269.227,46 triệu USD vào năm 2027, tăng trưởng với tốc độ là 15,45% trong giai đoạn dự báo (DBMR, 2020).

Sự phát triển ngày càng tăng và công nghệ trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe đang thúc đẩy sự tăng trưởng của thị trường du lịch sức khỏe.

Việc tiếp cận nhanh chóng với các dịch vụ chăm sóc y tế và nha khoa hay các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ khác không có sẵn ở nước sở tại.

Chênh lệch giá và dân số già ngày càng tăng sẽ có khả năng đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng của thị trường du lịch chăm sóc sức khỏe trong giai đoạn dự báo 2020-2027.

Mặt khác, sự tham gia vào thị trường này của các quốc gia mới nổi trên toàn thế giới sẽ kéo theo cơ hội tăng trưởng của thị trường du lịch sức khỏe.

Tuy nhiên, chi phí điều trị cao có khả năng cản trở sự tăng trưởng của thị trường du lịch chăm sóc sức khỏe trong giai đoạn dự báo nêu trên.

Theo đó, các quốc gia tại Bắc Mỹ vẫn sẽ thống trị thị trường du lịch chăm sóc sức khỏe do mức đầu tư ngày càng tăng cho việc phát triển các công nghệ tiên tiến trong chăm sóc y tế và y tế tổng quát.

Trong khi Châu Á – Thái Bình Dương dự kiến sẽ tăng trưởng với tốc độ cao nhất trong giai đoạn dự báo 2020-2027 do khu vực này có nhiều điểm đến du lịch là nơi mọi người ưa thích trong kỳ nghỉ (DBMR, 2020).

Tuy nhiên, từ đầu năm 2020 đến nay, ngành du lịch toàn cầu chứng kiến cuộc khủng hoảng bởi tác động của đại dịch Covid-19 khiến cho mọi hoạt động du lịch nội địa và quốc tế phải ngừng trệ.

Hệ quả của cuộc khủng hoảng này kéo dài tới tận thời điểm hiện tại năm 2021, khiến ngành du lịch toàn cầu thiệt hại đến 4.000 tỷ USD trong 2 năm vừa qua (UNWTO, 2021).

Không nằm ngoài tầm ảnh hưởng đó, thị trường du lịch chăm sóc sức khoẻ toàn cầu cũng chịu những tác động tiêu cực, đặc biệt khi mà ưu tiên của khách du lịch chăm sóc sức khoẻ là nhằm cải thiện, nâng cao sức khoẻ thể chất và tinh thần.

Khách du lịch chăm sóc sức khoẻ sẽ là một trong những người đầu tiên đưa ra quyết định, lựa chọn không đi du lịch trong bối cảnh đại dịch toàn cầu để đảm bảo an toàn cho bản thân và cộng đồng.

Trong thời điểm đại dịch Covid-19, các cơ sở y tế được sử dụng để làm nơi chăm sóc người bệnh nhiễm Covid nên không đủ khả năng tiếp nhận người bệnh là khách du lịch y tế. Cán bộ, nhân viên y tế cũng phải tham gia tối đa vào công tác phòng chống dịch vì vậy nguy cơ nhiễm bệnh cũng cao hơn.

Điều này có thể không hoàn toàn xảy ra, nhưng cũng đem lại những lo lắng cho khách du lịch quốc tế khi muốn đi du lịch để được chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ tại một quốc gia chưa thực sự kiểm soát được dịch bệnh (Sharma et al., 2020).

Những cơ sở chăm sóc sức khoẻ như spa, làm đẹp, thẩm mỹ, suối khoáng… cũng là những nơi phải đóng cửa gần như đầu tiên bởi tính chất tiếp xúc gần của các cá nhân tham gia hoạt động này, không đảm bảo an toàn trong bối cảnh Covid-19 chưa thể kiểm soát.

Có thể khẳng định, trong thời gian sớm nhất, khi mà du lịch quốc tế vẫn bị hạn chế, thì du lịch chăm sóc sức khoẻ sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp nặng nề nhất.

Các bệnh viện chỉ thực hiện các quy trình phẫu thuật khẩn cấp hoặc chỉ thực hiện chữa bệnh đối với bệnh nhân trong tình trạng sức khỏe đe dọa tính mạng mà không thể có lựa chọn điều trị nào khác.

Có thể thấy rằng cả bác sĩ cũng như bệnh nhân sẽ trì hoãn các thủ tục phẫu thuật tự chọn/không nguy cấp trong một thời gian dài để xem xét có liên quan đến nguy cơ nhiễm Covid-19.

Chắc chắn đại dịch này sẽ làm xáo trộn ngành du lịch chăm sóc sức khoẻ và đặc biệt là du lịch chữa bệnh trị giá hàng tỷ đô la trên toàn thế giới. Thiệt hại hoặc mất mát đối với cả nền kinh tế và danh tiếng trong lĩnh vực này có thể là tạm thời hoặc vĩnh viễn.

Trong tất cả những tiêu cực mà thế giới đang phải đối mặt vì đại dịch này, điểm sáng duy nhất là các cơ sở y tế, cơ sở chăm sóc sức khỏe được phát triển cả về số lượng và chất lượng (Sharma et al., 2020).

Khi hoạt động du lịch được phục hồi sau đại dịch, mọi thứ dần quay về trạng thái bình thường mới, một số quốc gia sẽ phát triển các cơ sở y tế của họ tốt đến mức bệnh nhân của họ có thể không phải đến các quốc gia tốt hơn để phẫu thuật.

Tùy thuộc vào mức độ bị tác động bởi đại dịch của một số quốc gia, bệnh nhân có thể không chọn điểm đến để đi du lịch chăm sóc sức khoẻ.

Một số quốc gia có thể không cấp thị thực cho công dân của các quốc gia cụ thể tùy thuộc vào rủi ro liên quan đến du lịch quốc tế đến quốc gia cụ thể đó.

Thế giới cũng đang trải qua khủng hoảng kinh tế, và nhiều bệnh nhân có thể phải suy nghĩ lại nếu họ có thể chịu chi phí du lịch chữa bệnh vào lúc này. Giá trị tiền tệ đang xuống thấp do ngừng kinh doanh và xuất nhập khẩu toàn cầu.

Ngành du lịch chăm sóc sức khoẻ sẽ phải đối mặt với sự tụt hậu rõ rệt trong tăng trưởng ước tính do tác động của đại dịch đã đề cập ở trên.

Các quốc gia muốn phục hồi và phát triển ngành du lịch chăm sóc sức khoẻ cùng với tất cả các bệnh viện và cơ sở dịch vụ chăm sóc sức khỏe được quốc tế công nhận cần phải lập kế hoạch và hành động nhằm giảm thiểu thiệt hại và phục hồi.

Bên cạnh đó, có thể các quốc gia cần thực hiện sửa đổi các tiêu chí yêu cầu y tế để cấp visa du lịch, sửa đổi tiêu chuẩn chăm sóc sức khỏe và phí điều trị đối với đối tượng là khách du lịch chăm sóc sức khoẻ.

Bên cạnh đó, trong trạng thái bình thường mới, những nhà cung cấp dịch vụ du lịch chăm sóc sức khoẻ cũng sẽ phải thích nghi với những yêu cầu, xu hướng du lịch mới hiện nay trên thế giới để đảm bảo sự thoải mái, tiện nghi và đặc biệt là an toàn cho khách du lịch.

Những đặc tính và yêu cầu mới đối với du lịch quốc tế trong hoàn cảnh sau đại dịch có thể xác định (April, 2021):

– Tính đảm bảo: Nhấn mạnh việc sử dụng các phương thức giữ gìn vệ sinh cá nhân, giữ khoảng cách xã hội và luôn cập nhật các quy định về hạn chế nhập cảnh cho khách du lịch là cần thiết. Xu hướng sử dụng hộ chiếu y tế kỹ thuật số và các công nghệ không tiếp xúc sẽ được ứng dụng rộng rãi để đảm bảo hoạt động du lịch an toàn.

– Tính linh hoạt: Các hãng hàng không có thể sẽ loại bỏ phí đổi vé để giúp du khách cảm thấy thoải mái hơn khi đặt vé, điều này cũng có thể áp dụng cho các cơ sở dịch vụ du lịch khác trong đó có du lịch chăm sóc sức khoẻ.

– Tính quen thuộc: Khách du lịch muốn lựa chọn an toàn khi trở lại nơi mà mọi người đã đi du lịch trước đây hoặc đến theo lời giới thiệu từ gia đình và bạn bè, như một cách giữ cho khách du lịch biết các biện pháp đảm bảo an toàn và sức khỏe của điểm đến.

– Tính bền vững: Sau đại dịch, bầu khí quyển và đại dương sạch hơn, động vật hoang dã đã quay trở lại những khu vực trước đây đã bị thu hẹp bởi hoạt động của con người bao gồm cả du lịch. Việc đóng cửa đã mang lại lợi ích cho môi trường. Vì vậy, xu thế mới của du lịch cũng là duy trì tính bền vững của tự nhiên và môi trường.

Có thể thấy, các xu thế du lịch mới khá phù hợp với những đặc tính của du lịch chăm sóc sức khoẻ. Vì vậy, trong tương lai khi tình hình dịch bệnh được kiểm soát, khách du lịch toàn cầu có thể đi du lịch một cách an toàn, loại hình du lịch này sẽ có thế mạnh để phát triển một cách nhanh chóng và mạnh mẽ.

3. Một số vấn đề đặt ra cho việc phát triển thị trường du lịch chăm sóc sức khoẻ tại Việt Nam:

Việt Nam có tiềm năng lớn trong phát triển du lịch chăm sóc sức khoẻ với những phương thuốc chữa bệnh Đông y truyền thống, tiến bộ trong chữa bệnh Tây y (IVF, ghép tạng, nha khoa…), tài nguyên tự nhiên (hệ thống suối khoáng nóng, cảnh quan thiên nhiên), tài nguyên văn hoá – xã hội.

Bên cạnh đó, hệ thống cơ sở lưu trú du lịch có các cơ sở chăm sóc sức khoẻ đạt tiêu chuẩn cũng là một thế mạnh sẵn có của du lịch Việt Nam.

Các điểm đến như Hội An, Nha Trang, Phú Quốc, TP. Hồ Chí Minh… đã thu hút lượng đáng kể khách du lịch đến với mục đích chính là chăm sóc sức khoẻ và chữa bệnh trong thời gian qua.

Tuy nhiên, trên bản đồ du lịch chăm sóc sức khoẻ của thế giới, Việt Nam còn khá mờ nhạt bởi chúng ta đã có nhưng làm nổi bật, làm chuẩn mực các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ/chữa bệnh dành riêng cho khách du lịch.

Đồng thời, công tác xúc tiến quảng bá, phát triển thị trường đối với dòng sản phẩm này cũng chưa được thực hiện hiệu quả, bài bản.

Có thể thấy, du lịch chăm sóc sức khoẻ ở Việt Nam mới đang ở mức độ manh nha hoặc chủ yếu là kết hợp với các loại hình du lịch khác như nghỉ dưỡng biển, nghỉ dưỡng núi, du lịch đô thị.

Do đó, để phát triển thị trường đầy tiềm năng này, ngành du lịch Việt Nam cần phải giải quyết một số vấn đề đặt ra sau đây:

– Cần thiết phải thực hiện nghiên cứu, điều tra toàn diện về tiềm năng, thực trạng và nhu cầu của thị trường du lịch chăm sóc sức khoẻ tại Việt Nam.

– Cải thiện chất lượng hệ thống dịch vụ du lịch chăm sóc sức khoẻ sẵn có, đảm bảo các tiêu chuẩn, tiêu chí về an toàn sức khoẻ cho khách du lịch.

– Nâng cao chất lượng đội ngũ nguồn nhân lực có tay nghề cao, đáp ứng nhu cầu phát triển.

– Xây dựng hệ thống sản phẩm, dịch vụ du lịch chăm sóc sức khoẻ phù hợp với từng phân khúc thị trường khách (theo độ tuổi, nền văn hoá…), có đặc thù riêng của Việt Nam, có khả năng cạnh tranh với các quốc gia trong khu vực.

– Đảm bảo an toàn sức khoẻ, an ninh cho khách du lịch trong bối cảnh nhiều vấn đề dịch bệnh trên toàn cầu. Đưa ra các phương án, hướng dẫn cụ thể về xử lý tình huống khẩn cấp, khủng hoảng với các đơn vị kinh doanh du lịch chăm sóc sức khoẻ.

– Tạo được cơ chế hợp tác hiệu quả giữa các cơ sở khám chữa bệnh với cơ sở dịch vụ du lịch để hình thành các gói sản phẩm chăm sóc sức khoẻ/chữa bệnh với giá cả cạnh tranh, đảm bảo chất lượng phục vụ khách du lịch.

Kết luận lại, thị trường khách du lịch chăm sóc sức khoẻ trên thế giới được dự báo là sẽ tăng trưởng nhanh và mạnh mẽ trong thời gian tới sau khi ngành du lịch toàn cầu được phục hồi sau đại dịch.

Nguồn cung và cầu của thị trường này có nhiều đặc điểm khác biệt so với du lịch thông thường, nên việc đáp ứng nhu cầu của khách du lịch chăm sóc sức khoẻ cũng đặt ra nhiều thách thức với các điểm đến.

Tuy nhiên, trong bối cảnh mới khi mà toàn thế giới đặt vấn đề sức khoẻ lên hàng đầu, những chuyến du lịch đầu tiên sau đại dịch sẽ có mục tiêu ưu tiên là chăm sóc, nâng cao sức khoẻ cả về thể chất và tinh thần.

Vì vậy, du lịch chăm sóc sức khoẻ là xu hướng phát triển trong bối cảnh mới và phù hợp đối với lợi thế, tiềm năng của du lịch Việt Nam để có thể tạo nên một sản phẩm du lịch mang tính cạnh tranh cao, góp phần phục hồi và đưa ngành du lịch Việt Nam cất cánh./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Sharma, A., Vishraj, B., Ahlawat, J., Mittal, T., & Mittal, M. (2020). Impact of COVID-19 outbreak over Medical Tourism. IOSR Journal of Dental and Medical Sciences, 19(5), 56-58.
2. UNWTO, ETC. (2018). Expoloring health tourism. UNWTO, Madrid.
3. Data Bridge Market Research. (2020). Global healthy tourism market – industry trends and forecasts to 2027. Retrieved from databridgemarketresearch.com.
4. UNWTO. (2021). Global economy could lose over $4 trillion due to Covid-19 impact on tourism. Retrieved from unwto.org/news.
5. April, J. P (2021). Travel trend in 2021: What to expect from the future of travel after Covid-19. Retrieved from blog.smartvel.com

ThS. Nguyễn Hoàng Mai
Viện nghiên cứu Phát triển Du lịch

Xem thêm bài viết: Du lịch chăm sóc sức khỏe ý nghĩa xu hướng và sự khác biệt du lịch y tế

Bạn đang xem bài viết:
Thị trường du lịch chăm sóc sức khỏe trên thế giới và những vấn đề đặt ra cho du lịch Việt Nam
Link https://myhocdaicuong.com/du-lich/thi-truong-du-lich-cham-soc-suc-khoe-tren-the-gioi-va-nhung-van-de-dat-ra-cho-du-lich-viet-nam.html

Các tìm kiếm có liên quan: Các vấn đề sức khỏe cộng đồng hiện này; Các yếu tố quyết định sức khỏe; Chăm sóc sức khỏe; Đã đến lúc hành động vì sức khỏe con người; Giáo trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng; Hiểu về chăm sóc sức khỏe toàn diện; Hưởng ứng ngày sức khỏe thế giới;

Các tìm kiếm có liên quan: Ngày sức khỏe thế giới năm nay; Sức khỏe là gì; Tìm hiểu mô hình các cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu; Thực trạng chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam; Thực trạng sức khỏe hiện nay; Thực trạng sức khỏe ở Việt Nam; Trung tâm chăm sóc sức khỏe toàn diện nhất.

Chia sẻ bài viết:
error: