Skip to content

Một số vấn đề đặt ra đối với phát triển du lịch chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam

mot so van de dat ra doi voi phat trien du lich cham soc suc khoe o viet nam

Theo thống kê của viện nghiên cứu toàn cầu về chăm sóc sức khỏe (Global wellness institute) (11/2017): Chăm sóc sức khỏe đang được ví như một ngành công nghiệp phát triển nhanh, tạo ra 134 nghìn tỉ đô; tập quán và du lịch chữa lành đang lan tỏa khắp thế giới.

Năm 2017 du lịch chăm sóc sức khỏe toàn cầu đã có tới 740 dự án, phủ khắp 34 quốc gia. Trong 20 điểm đến du lịch trị liệu theo thống kê của viện nghiên cứu trị liệu Hoa Kỳ (2020), Châu Á cũng có tên trong danh sách, với các quốc gia tiêu biểu ở Thái Lan, Malaysia, Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Việt nam (22,8%).

Do tác động của cuộc cách mạng công nghiệp, nhiều vấn đề nảy sinh tác động trực tiếp lên sức khỏe người lao động hiện nay như: Ô nhiễm toàn cầu, sự gia tăng dân số, vấn đề thực phẩm không an toàn có chất kích thích tăng trưởng, chất bảo quản trong thực phẩm vượt ngưỡng an toàn cho người sử dụng.

Bên cạnh đó các vấn đề sức khỏe từ bệnh văn phòng, việc khai thác sức khỏe quá sức của người lao động cho đến khi có tuổi biểu hiện ra; các áp lực cuộc sống, đô thị hóa khiến.

Đặc biệt là khủng hoảng do đại dịch Covid-19 toàn cầu, từ đó du lịch chăm sóc sức khỏe ngày càng được quan tâm, tìm kiếm và ứng dụng trong du lịch cho khách du lịch ở các lứa tuổi trong những năm gần đây.

Nằm trong danh sách những doanh nghiệp tiên phong trong việc khai thác du lịch chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam, Medi Thiên Sơn, Alba valley và Mekong cruise có những thuận lợi của các doanh nghiệp tiên phong trong khai thác loại hình du lịch mới này, nhưng cũng có những khó khăn chung, lẫn khó khăn riêng để phát triển thị trường du lịch đầy tiềm năng này hiện nay.

Những vấn đề này cần được chỉ ra, bàn luận làm cơ sở cho để phát triển thương hiệu du lịch trị liệu nội địa nói riêng và du lịch trị liệu trên thị trường du lịch quốc tế nói chung.

1. Du lịch chăm sóc sức khỏe

Du lịch chăm sóc sức khỏe trên thế giới được đề cập dưới nhiều thuật ngữ khác nhau, với nội hàm tương đương như: Wellness tourism (hay Medical tourism; spa tourism; health tourism, Health-oriented tourism, du lịch chăm sóc sức khỏe) đã sớm xuất hiện trên thế giới.

Ở những quốc gia, những điểm đến du lịch có nền y học truyền thống phát triển, cho các điểm du lịch có điều kiện sinh, khoáng tự nhiên hữu ích, nhằm đem lại cho khách những hiệu quả trị liệu và nghỉ ngơi, cho khách có những vấn đề về sức khỏe khác nhau; nhằm dự phòng các vấn đề về sức khỏe và phục hồi các chức năng khác nhau của khách du lịch.

Từ rất lâu, du lịch chăm sóc sức khỏe đã có lịch sử hình thành và phát triển riêng của mình. Theo viện nghiên cứu trị liệu Hoa Kỳ (2020): Từ 3000- 1500 TCN, trong thời kì cổ đại, các phương thức trị liệu sức khỏe cho con người đã ra đời.

Sau đó được phát triển ở các quốc gia Trung Quốc, Hy Lạp (500 TCN), các phương pháp chữa bệnh nhờ vào vi lượng đồng cân (homoeopathy) đã ra đời và phát triển vào những năm 1790; phương pháp chữa bệnh nhờ vào nước (Hydrotherapy) vào những năm 1860;

Phương pháp nắn xương khớp, bấm huyệt (chiropractic) cũng phát triển vào những năm 1890, việc sử dụng các cây thuốc lá trong chữa bệnh (organic farming) cũng phát triển vào những năm 1950.

Trình độ phát triển của các phương pháp chữa bệnh trong những năm 1960 và đến những năm 1970, trung tâm chăm sóc sức khỏe, trị liệu đầu tiên đã ra đời ở California, Hoa Kỳ. Các phương pháp trị liệu truyền thống trở thành một xu thế chủ đạo, phát triển ở các quốc gia như Bhutan, Ấn Độ, Malaysia… rồi lan tỏa trên toàn cầu (2010).

Trong thế kỷ XXI, du lịch chăm sóc sức khỏe được khẳng định vị trí và vai trò trong các “chỉ số hạnh phúc” (the blooming) năm 2012, và được nhìn nhận như một ngành kinh tế du lịch với các phương pháp trị liệu, chữa lành toàn cầu vào năm 2013.

Năm 2014, Viện Nghiên cứu sức khỏe toàn cầu (Global wellness institute) chính thức được thành lập và liên tục mở rộng phạm vi, ảnh hưởng trên phạm vi toàn cầu; những khu vực bất động sản nghỉ dưỡng, spa với định hướng trị liệu, phục hồi và nghỉ dưỡng mở rộng phạm vi trên toàn thế giới. Đặc biệt ở những điểm đến du lịch có nguồn suối khoáng phát triển, có tài nguyên tự nhiên đa dạng, khí hậu phù hợp cho trị liệu sức khỏe.

Cùng với sự phát triển của du lịch chăm sóc sức khỏe, các dịch vụ liên ngành như nhà hàng, khách sạn, shopping với định hướng thời trang, đồ tập cũng phát triển theo định hướng du lịch chăm sóc sức khỏe. Theo thống kê của viện nghiên cứu chăm sóc sức khỏe toàn cầu:

Năm 2017: Toàn thế giới đạt 4,5 tỉ $, trong đó Châu Á có: 258 triệu lượt chuyến đi có liên quan đến du lịch trị liệu, đứng đầu là Trung Quốc và Bali, Các suối khoáng nóng ở Châu Á, Thái Bình Dương đứng đầu các điểm đến đầu tư.

Trong lĩnh vực nghiên cứu học thuật về du lịch chăm sóc sức khỏe, từ năm 1989, Goeldner định nghĩa 5 thành phần của du lịch chăm sóc sức khỏe bao gồm:

1/ Ánh nắng mặt trời và hoạt động vui chơi;

2/ Sự tham gia vào điều dưỡng nhưng không chỉ là hoạt động thể thao đơn thuần; như đi bộ, đạp xe hoặc đánh gôn);

3/ Động lực cho du lịch trị liệu là sức khỏe (ví dụ: du lịch biển, hoặc du lịch đến các vùng khí hậu tốt khác nhau);

4/ Du lịch tại phòng tắm hơi, massage, và các hoạt động y tế khác (khu nghỉ dưỡng spa);

5/ Điều trị nội khoa. Du lịch chăm sóc sức khỏe còn được gọi dưới các thuật ngữ khác như: “Health-oriented tourism”, “health and spa tourism” (bởi IUTO (international union of tourist organization) (1973) như là: Việc cung cấp các cơ sở y tế sử dụng tài nguyên thiên nhiên của đất nước, đặc biệt là khoáng sản và khí hậu.

Từ thực tế tổng hợp tài liệu và thực tế tiến hành khảo sát, nghiên cứu, có thể hiểu, Du lịch chăm sóc sức khỏe là: Một loại hình du lịch trải nghiệm sức khỏe, được thiết kế tại điểm nghỉ dưỡng tự nhiên thuận lợi nhằm tạo điều kiện để khách du lịch tái kết nối với chính mình từ đó nuôi dưỡng, phát triển bản thân về phương diện thể chất, tinh thần, cảm xúc, tâm linh; tách biệt khách du lịch khỏi những lo lắng của cuộc sống thường ngày; tạo ra sự cởi mở, đón nhấn sự thay đổi tích cực sau chương trình du lịch (Đỗ Hải Yến, 2021).

Khác với các loại hình du lịch khác, Du lịch chăm sóc sức khỏe hướng vào những trị liệu tâm lý và thể trạng bên trong, thay vì những biểu hiện trải nghiệm, khám phá tài nguyên du lịch tại điểm.

Đối tượng khách du lịch chăm sóc sức khỏe hiện nay đa dạng, phần lớn là khách du lịch quốc tế, khách có thu nhập cao với nhu cầu du lịch gần với thiên nhiên, khách có nhu cầu nghỉ dưỡng kết hợp trị liệu phục hồi sức khỏe và các hộ gia đình ở các lứa tuổi đi nghỉ dưỡng ở các khu du lịch cao cấp.

Khách du lịch chăm sóc sức khỏe quan tâm tới các các môn thể thao, trị liệu tăng cường sức khỏe như: Yoga, Maraton, leo núi… nhằm vượt qua giới hạn bản thân; trị liệu ung thư, luyện tập mát xa, mất ngủ, lấy lại sức khỏe và xây dựng không khí đoàn khách sau thời gian nghỉ dưỡng, nhờ vào các liệu pháp cổ truyền, gần với thiên nhiên.

2. Tiềm năng và những rào cản phát triển du lịch chăm sóc sức khỏe bền vững ở Việt Nam

Ở trong nước, du lịch chăm sóc sức khỏe đã phát triển từ lâu, nhưng mới chỉ do sự đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài lớn và nhanh nhạy, ở các khu nghỉ dưỡng cao cấp như: Six sences, An Lâm retreat, flamingo, Thiên Sơn Medi, Alba…

Hệ quả tác động của đại dịch Covid-19 là những nguyên nhân kích cầu du lịch về chăm sóc sức khỏe; cùng với công tác kiểm dịch Covid-19 tốt của Việt Nam khiến du lịch nội địa Việt Nam có sự thuận lợi hơn để phát triển du lịch chăm sóc sức khỏe trong giai đoạn hiện nay.

Du lịch chăm sóc sức khỏe hiện đang phát triển như một xu thế trên thế giới và trong nước, có sự tham gia của cộng đồng hay tổ chức quốc tế như một thực tế và nhu cầu đòi hỏi tất yếu của xã hội.

Tuy nhiên, phát triển du lịch chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam có thể đứng trước sự không bền vững do nhiều nguyên nhân như: Môi trường, môi sinh, kinh tế, văn hóa, tài nguyên hay con người… Để phát triển du lịch chăm sóc sức khỏe bền vững hiện nay cũng tồn tại nhiều khó khăn, cụ thể:

2.1 Cộng đồng và thị trường du lịch chăm sóc sức khỏe chưa có 1 hệ thống kiến thức tiêu chuẩn và nghiên cứu chuyên sâu về du lịch chăm sóc sức khỏe, dẫn đến các sự đầu tư và triển khai mới tự phát và đôi khi đi sai hướng.

Mặc dù du lịch trị liệu trên thế giới đã có sự phát triển từ lâu, nhưng ở Việt Nam, đây vẫn là một loại hình du lịch mới, để làm chủ được sản phẩm du lịch này cần kiến thức tiêu chuẩn và chuyên sâu và thời gian đầu tư.

Một số nhà đầu tư về du lịch chăm sóc sức khỏe nội địa đã nhạy bén, sớm phát triển về du lịch chăm sóc sức khỏe một cách vội vã, từ đó không tránh khỏi sự đầu tư mới mang tính “tự phát”; thiếu khảo sát thị trường;

Trong khi nhân lực làm du lịch chăm sóc sức khỏe cần thời gian tích lũy kiến thức trước khi đưa vào sử dụng; các sản phẩm du lịch chăm sóc sức khỏe cũng cần được đóng gói rõ ràng, theo thị hiếu khách hàng tại điểm đến. Thị trường khách tiềm năng về du lịch chăm sóc sức khỏe trong nước vì vậy cũng còn bỏ ngỏ.

2.2 Công tác quảng bá và truyền thông về du lịch chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam cần có sự liên kết chuyên nghiệp giữa các ban ngành.

Việt Nam đang có lợi thế về điểm đến du lịch hậu Covid-19 khá tốt, trong khi trên thế giới, vấn đề Covid-19 vẫn là một vấn đề mang tính toàn cầu. Loại hình du lịch chăm sóc sức khỏe nội địa này rất có khả năng phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam như một nguồn lực hậu Covid-19.

Tuy nhiên tài nguyên du lịch đầy tiềm năng này vẫn chưa được chú ý và đầu tư chuyên sâu và bài bản như khả năng phát triển của nó. Đây là giai đoạn tốt để các ban ngành có sự liên kết, chỉ đạo đầu tư phát triển về nhân lực chuyên nghiệp, tính thời vụ và tận dụng được thiên nhiên phong phú để đón các đoàn khách trị liệu quốc tế, mở rộng sự phát triển không chỉ nội địa mà cả quốc tế trong tương lai rất gần.

Tuy nhiên, loại hình du lịch này vẫn chưa được quan tâm, đầu tư phát triển mạnh ở Việt Nam, truyền thông cũng chưa có sự đầu tư đúng mức cho thị trường du lịch tiềm năng này. Nhiều nhà y học phương Đông đã có ý kiến rằng: “Việt Nam dễ ngủ quên trên các mỏ thuốc dân gian hữu hiệu”…

2.3 Thị trường du lịch chuyên biệt về du lịch chăm sóc sức khỏe tại các doanh nghiệp chưa được tập trung khai thác.

Loại hình du lịch chăm sóc sức khỏe vẫn còn là mới ở Việt Nam và do ảnh hưởng bởi tác động kinh tế do Covid-19, các doanh nghiệp vẫn chưa thực sự tập trung khai thác, mà các doanh nghiệp vẫn theo một hướng chủ đạo về nghỉ dưỡng và khám phá là chủ yếu.

Lợi ích kinh tế của một chương trình du lịch chăm sóc sức khỏe tương đối cao so với cùng thời điểm và các loại hình du lịch khác, đơn cử, giá 1 chương trình du lịch trị liệu của Alba, trong 5 ngày- 4 đêm, hiện có giá 17 triệu/người; Mekong cruise: 3 ngày- 2 đêm: 25 triệu/ cabin/2 người; giá của An Lâm retreat (Ninh Vân Bay) dao động khoảng 5-7 triệu/ đêm; tại Six sences khoảng 6 đến 15 triệu (tùy thời điểm).

Tuy nhiên, nguồn lực này vẫn chưa được các doanh nghiệp tập trung khai thác. Bản thân khách du lịch còn nhiều e ngại, chưa thông hiểu về sản phẩm du lịch chăm sóc sức khỏe “có gì khác so với detox, massage…”- đó là những rào cản tiếp cận giữa nhà phân phối và khách hàng du lịch trị liệu.

2.4 Lượng và chất của nguồn nhân lực trực tiếp tham gia vào du lịch chăm sóc sức khỏe chuyên sâu cho khách du lịch ở Việt Nam.

Để phát triển du lịch chăm sóc sức khỏe hậu Covid-19, để đón được các đoàn khách quốc tế lớn và xây dựng thương hiệu điểm đến du lịch trị liệu hậu covid-19 ở Việt Nam cần có những người làm sản phẩm du lịch chăm sóc sức khỏe tốt và có số lượng lớn.

Những nhân lực này cần được tạo nguồn ngay, cần sự thấu hiểu và tận dụng được các đặc điểm thiên nhiên, giá trị Đông y sức khoẻ, thảo dược… của Việt Nam để cùng tham gia vào, thúc đẩy du lịch chăm sóc sức khỏe như nhiều quốc gia trong khu vực và thế giới như Ấn Độ, Bhutan, Trung Quốc… đã làm.

Bên cạnh đó, để phát huy tối đa và xây dựng thương hiệu một điểm đến du lịch chăm sóc sức khỏe mạnh mẽ, không chỉ cần một “leader” hiểu rõ về du lịch chăm sóc sức khỏe để điều phối các nhân viên mà cần một ê kíp cùng hiểu để xác định được nhu cầu thực sự của khách du lịch.

Từ đó xây dựng một quy trình trị liệu chuyên nghiệp cho từng khách. Theo chị Diên Phạm (Alba valley, 2020): Du lịch chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam vẫn chưa được hiểu đủ, do vậy khách dễ nhầm lẫn với các loại hình detox thông thường, cần tăng cường nhân lực về cả lượng và chất cho thị trường đầy tiềm năng này.

2.5 Kinh tế: Giá thành sản phẩm du lịch chăm sóc sức khỏe còn cao, trong khi thời gian chương trình thường ngắn.

Một trong những nguyên nhân khiến du lịch chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam đã phát triển nhưng vẫn chưa rộng rãi đó là vấn đề về kinh tế: Các điểm đến du lịch chăm sóc sức khỏe đẹp, có ích cho sức khỏe thể lực và tinh thần con người, thiết kế vừa sang trọng nhưng gần gũi thiên nhiên, xa khu dân cư do nhu cầu của khách du lịch chăm sóc sức khỏe thường cao và biệt lập.

Các chi phí vận chuyển, nhân sự, thời vụ khai thác hiện tại… đẩy giá chương trình du lịch chăm sóc sức khỏe còn rất cao so với mặt bằng chung. Thêm vào đó, khai thác du lịch chăm sóc sức khỏe nhìn chung cần nhân lực chuyên môn cao với những phương pháp trị liệu chuyên biệt.

Tuy nhiên, để thu hút đông đảo hơn lượng khách du lịch tham gia vào loại hình du lịch nhìn chung còn mới mẻ nội địa này, cũng cần những chương trình kích cầu, giảm giá để thu hút khách du lịch; để vừa đảm bảo lợi ích kinh tế và tính cạnh tranh lành mạnh giữa các đại lý, doanh nghiệp, nhân lực làm du lịch chăm sóc sức khỏe nhưng cũng thu hút khách du lịch tối đa và lâu dài.

2.6 Cần “đo lường và cam kết được hiệu quả” của du lịch chăm sóc sức khỏe trong quảng cáo chương trình du lịch cho khách để thu hút hơn khách du lịch trị liệu.

Một trong những vấn đề khiến khách du lịch chăm sóc sức khỏe còn dè dặt khi quyết định tham gia vào chương trình du lịch trị liệu hiện nay là: Hiệu quả về chương trình du lịch chăm sóc với du khách còn chưa được khẳng định và đo lường rõ ràng.

Từ đó trong công tác xúc tiến, quảng bá về chương trình du lịch trị liệu trong tương lai, cần có sự chú trọng đầu tư hơn về công tác chuyên môn và khẳng định được điều đó với du khách có nhu cầu, tiềm năng tham gia vào chương trình du lịch chăm sóc sức khỏe.

Tóm lại, Du lịch chăm sóc sức khỏe là một xu hướng du lịch đương đại, không chỉ có tiềm năng khai thác du lịch nội địa mà cả thị trường quốc tế, trong và sau bối cảnh đại dịch Covid-19 ở Việt Nam.

Tuy nhiên, để phát triển loại hình du lịch này, Việt Nam cần sự phối hợp của các ban ngành, chú trọng đầu tư, gạt bỏ những khó khăn trước mắt; để hướng tới thị trường du lịch rộng lớn và triển vọng này trong tương lai gần./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Asian development bank, (2020), Asian development outlook 2020 update, theme chapter: Wellness in worrying times, 91 pages
2. IUTO(1973); Link https://books.google.com.vn/books?hl=en&lr=&id=x7UsBgAAQBAJ&oi
3. Goeldner (1989); Health tourism market; Link https://books.google.com.vn/books?id=x7UsBgAAQBAJ&lpg=PA27&lr&pg=PP1#v=onepage&q&f=false
4. History of Wellness – Global Wellness Institute. Link https://globalwellnessinstitute.org/what-is-wellness/history-of-wellness
5. Timothy J Lee; Ji sook Han; Tae Gyou Ko (2020); Health-Oriented Tourists and Sustainable Domestic Tourism; https://www.mdpi.com/2071-1050/12/12/4988/htm
6. Thang Phan, Linh Tran, Dien Pham, (2020), Tư liệu trình bày tại hội thảo wellness Hà Nội 2020

TS. Đỗ Hải Yến
Khoa Du lịch học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Đại học Quốc Gia Hà Nội

Xem thêm bài viết: Hiện trạng mô hình khai thác phát triển du lịch chăm sóc sức khỏe ở suối khoáng nóng Mỹ Lâm – Tuyên Quang

Bạn đang xem bài viết:
Một số vấn đề đặt ra đối với phát triển du lịch chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam
Link https://myhocdaicuong.com/du-lich/mot-so-van-de-dat-ra-doi-voi-phat-trien-du-lich-cham-soc-suc-khoe-o-viet-nam.html

Các tìm kiếm có liên quan: 10 vấn đề sức khỏe trọng tâm và mục tiêu ba tỷ trong năm nay; Các vấn đề sức khỏe cộng đồng hiện này; Công tác giáo dục chăm sóc sức khỏe ban đầu tại Việt Nam; Chăm sóc sức khỏe ban đầu PDF; Chinh phục mục tiêu chăm sóc sức khỏe y tế;

Các tìm kiếm có liên quan: Đã đến lúc hành động vì sức khỏe cho mọi người; Hệ thống chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam; Lập kế hoạch chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng; Tổng quan ngành chăm sóc sức khỏe tại Việt Nam; Thực trạng chăm sóc sức khỏe gia đình ở Việt Nam;

Các tìm kiếm có liên quan: Thực trạng chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam; Thực trạng sức khỏe con người hiện nay; Thực trạng sức khỏe ở Việt Nam; Thực trạng về nhu cầu chăm sóc sức khỏe của cộng đồng; Việt Nam đang đối mặt với hàng loạt thách thức mới về sức khỏe.

Chia sẻ bài viết:
error: