Một số khái niệm và vấn đề về du lịch chăm sóc sức khỏe

mot so khai niem va van de ve du lich cham soc suc khoe

Chúng ta sẽ cùng nhau đặt ra vấn đề và cách giải quyết du lịch chăm sóc sức khỏe ra sao? Sau đó, là những kết quả nghiên cứu cụ thể về mảng du lịch chăm sóc sức khỏe tại Việt Nam như thế nào?

1. Đặt vấn đề về du lịch chăm sóc sức khỏe

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia (Truy cập lức 14 giờ 00 ngày 09 tháng 7 năm 2021) cho rằng: “Du lịch chăm sóc sức khỏe hoặc du lịch y tế (tiếng Anh: medical tourism hay medical travel) là một thuật ngữ thường được các hãng du lịch và phương tiện truyền thông dùng để nói về kỹ nghệ đưa khách đi du lịch đến một nước khác với mục đích chính là nhận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe”, nhưng trong thực tế lại khác.

Hiện nay, du lịch chăm sóc sức khỏe đang phát triển rất mạnh, là xu thế tất yếu của du lịch thế giới, các nước đều rất quan tâm phát triển. Tuy vậy, chưa có sự thống nhất, dù ở mức tương đối, về các khái niệm và vấn đề lý luận liên quan.

Trước bối cảnh đó, Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch tổ chức Hội thảo “Phát triển du lịch chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam” mục đích tạo diễn đàn cho các nhà khoa học, nhà quản lý, các doanh nghiệp du lịch trao đổi về loại hình du lịch này, để hiểu đúng và tìm giải pháp thực thi đẩy mạnh phát triển du lịch chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam.

Viện Sức khỏe toàn cầu (Global Wellness Institute (GWI)) công bố: Năm 2017, du lịch chăm sóc sức khỏe đạt giá trị 639 tỉ USD, dự báo sẽ đạt ngưỡng 919 tỉ USD vào năm 2022. Theo báo cáo “Kinh tế Du lịch chăm sóc sức khỏe toàn cầu” (Global Wellness Tourism Economy), tháng 11 năm 2018, của Viện Sức khỏe toàn cầu (GWI)): Du lịch chăm sóc sức khỏe phát triển rầm rộ ở mọi nơi từ Bắc Mỹ đến Châu Âu, Châu Á – Thái Bình Dương và sẽ phát triển nhanh hơn trong những năm tới, bởi nó nằm ở vùng giao thoa mạnh mẽ của hai ngành lớn đang bùng nổ, ngành du lịch thuần túy và ngành chăm sóc sức khỏe. Trong 5 năm trở lại đây, Châu Á dẫn đầu cả số lượng khách và nguồn thu từ du lịch chăm sóc sức khỏe. Theo GWI, nếu du lịch chăm sóc sức khỏe duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân 7,5%/năm sẽ đóng góp 18% tỉ trọng cho ngành du lịch toàn thế giới.

Câu hỏi lớn mà tham luận đặt ra là: Làm thế nào để nhận thức đúng và đủ về loại hình du lịch chăm sóc sức khỏe, cả về lý luận và thực tiễn, để có chủ trương và giải pháp phù hợp phát triển loại hình du lịch này theo hướng bền vững trong sự nghiệp phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn?

2. Cách giải quyết vấn đề du lịch chăm sóc sức khỏe

Mục đích của tham luận là mong muốn cung cấp một số thông tin hữu ích và đề xuất những giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch chăm sóc sức khỏe cho các nhà hoạch định, quản lý du lịch, các cơ sở nghiên cứu, các cơ sở giáo dục đại học du lịch, giáo dục nghề nghiệp du lịch, các doanh nghiệp du lịch, y tế và những người quan tâm về du lịch chăm sóc sức khỏe.

Tham luận này dựa chủ yếu vào nguồn dữ liệu thứ cấp ở ngoài nước và trong nước khá phong phú về du lịch y tế, du lịch chữa bệnh, du lịch chăm sóc sức khỏe, nhưng chưa thấy có sự thống nhất về các khái niệm này. Do hạn chế về thời gian, quy định giãn cách xã hội trong đại dịch COVID-19, nên không thể khảo sát thực địa, chỉ qua mối quan hệ trao đổi trực tiếp hoặc trực tuyến để có thêm tư liệu sơ cấp.

Tham luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu: phương pháp thu thập và nghiên cứu tài liệu thứ cấp; Phương pháp khảo sát thực địa (tập trung những nơi có thể đến được trong những chuyến công tác, giảng dạy hoặc tham dự hội nghị, hội thảo, với những trải nghiệm và chứng kiến tận mắt các cơ sở giáo dục du lịch ở Việt Nam); Phương pháp phỏng vấn chuyên gia; và Phương pháp tổng hợp.

Kế thừa các cơ sở lý thuyết và tổng hợp, phân tích các nghiên cứu đã có liên quan du lịch chăm sóc sức khỏe; kết hợp trao đổi với các bên liên quan, tham luận tập trung tổng quan những khái niệm và vấn đề liên quan; đề xuất khái niệm từ suy nghĩ của bản thân và gợi mở những vấn đề cần trao đổi.

3. Kết quả nghiên cứu cụ thể Du Lịch

Luật Du lịch Việt Nam 2017 quy định tại Khoản 1, Điều 3, Chương I: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”.

Cũng theo Luật Du lịch Việt Nam 2017, tại Khoản 3, Điều 3, Chương I, thì: Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch và cơ quan, tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư có liên quan đến du lịch. Tại Khoản 2 của Điều này quy định: “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc để nhận thu nhập ở nơi đến”.

Điều 10, Chương 2 chia khách du lịch thành các loại khách du lịch thành: Khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa, khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và khách du lịch ra nước ngoài. Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú ở Việt Nam đi du lịch trong lãnh thổ Việt Nam. Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch. Khách du lịch ra nước ngoài là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú ở Việt Nam đi du lịch nước ngoài.

Dựa vào các tiêu thức phân loại khác nhau có thể chia du lịch thành các loại hình du lịch khác nhau. Căn cứ phạm vi lãnh thổ của chuvến du lịch, du lịch được chia thành du lịch nội địa và du lịch quốc tế. Du lịch nội địa là loại hình du lịch mà điểm xuất phát và điểm đến của khách cùng nằm trong lãnh thổ của một quốc gia.

Du lịch quốc tế là loại hình du lịch mà điểm xuất phát và điểm đến của khách nằm ở lãnh thổ của các quốc gia khác nhau, khách du lịch phải qua biên giới và tiêu ngoại tệ ở nơi đến du lịch. Loại hình du lịch quốc tế lại được chia thành du lịch quốc tế đến của những người từ nước ngoài đến một quốc gia nào đó và tiêu ngoại tệ ở đó.

Và du lịch quốc tế ra nước ngoài là loại hình du lịch của công dân một quốc gia nào đó và của những người nước ngoài đang cư trú trên lãnh thổ của quốc gia đó du lịch ra nước khác và tiêu tiền kiếm ra tại đất nước đang cư trú.

4. Kết quả nghiên cứu cụ thể Y Tế

Theo nghĩa đen (nghĩa trực tiếp của từ) thì y tế là chữa bệnh và cứu giúp, hay chăm sóc sức khỏe, là việc chẩn đoán, điều trị và phòng ngừa bệnh, bệnh tật, thương tích và suy yếu về thể chất và tinh thần khác ở người. Nó đề cập đến những việc cung cấp chăm sóc sức khỏe ban đầu, chăm sóc thứ cấp và chăm sóc thứ 3, cũng như trong y tế công cộng.

Mục tiêu của y tế và của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO – Cơ quan chuyên môn của Liên Hiệp Quốc) là giúp mọi người có được sức khoẻ tốt nhất. Từ năm 1977, WHO đề ra khẩu hiệu “Sức khoẻ cho tất cả mọi người vào năm 2000” và coi là ưu tiên thực hiện cao nhất của WHO. Để đạt được những mục tiêu này, tổ chức y tế các quốc gia và WHO đã đề ra bốn định hướng chiến lược tác động qua lại lẫn nhau:

1) Giảm tỉ lệ tử vong, tỉ lệ mắc bệnh và tật nguyền cao quá mức, đặc biệt trong các nhóm dân cư nghèo và bị thiệt thòi;

2) Cổ vũ lối sống lành mạnh và giảm các yếu tố gây nguy cơ cho sức khoẻ con người do các nguyên nhân môi trường, kinh tế, xã hội và hành vi gây ra;

3) Xây dựng các hệ thống y tế trong đó nâng cao một cách công bằng các kết quả đầu ra về sức khoẻ, đáp ứng các nhu cầu chính đáng của nhân dân và công bằng về tài chính;

4) Xây dựng môi trường thể chế và chính sách thuận lợi trong ngành Y tế, đẩy mạnh có hiệu quả vị thế y tế trong chính sách phát triển, môi trường, kinh tế và xã hội. Ngoài các định hướng chiến lược này, các quốc gia và vùng lãnh thổ cũng như WHO cũng xác định các ưu tiên cụ thể như phòng chống các bệnh sốt rét, lao phổi, sức khoẻ tâm thần, thuốc lá, các bệnh không truyền nhiễm (ung thư, tim mạch…), mang thai an toàn hơn và sức khoẻ trẻ em, HIV/AIDS, sức khoẻ và môi trường, an toàn thực phẩm, truyền máu an toàn, hệ thống y tế.

Ở Việt Nam, Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Thông tư 53/2014/TT-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định điều kiện hoạt động y tế trên môi trường mạng thì: Hoạt động y tế là các hoạt động bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong lĩnh vực: y tế dự phòng; khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng; giám định y khoa, pháp y, pháp y tâm thần; y dược cổ truyền; sức khỏe sinh sản; trang thiết bị y tế; dược; mỹ phẩm; an toàn thực phẩm; bảo hiểm y tế; dân số – kế hoạch hóa gia đình. Trong cuộc sống thường nhật, con người thường hiểu hoạt động y tế một cách giản đơn là khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe.

5. Kết quả nghiên cứu cụ thể Du Lịch Y Tế

Đây là thuật ngữ được đề cập đến rất nhiều trong các công trình nghiên cứu liên quan. Có thể thấy có bao nhiêu cá nhân, tổ chức nghiên cứu về du lịch y tế thì có bấy nhiêu thuật ngữ “Du lịch y tế” được đề xuất.

Theo OECD (2010) thì du lịch y tế là loại hình du lịch khi người tiêu dùng du lịch qua biên giới quốc gia và vùng lãnh thổ đang sinh sống tới các nước khác với mong muốn tiếp cận một số loại hình điều trị y tế.

Điều trị này có thể bao gồm đầy đủ các chuyên khoa, nhưng phổ biến nhất bao gồm chăm sóc nha khoa, phẫu thuật thẩm mĩ, phẫu thuật không cấp thiết và điều trị khả năng sinh sản. Hiệp hội Du lịch Y tế (2017) định nghĩa:

“Du lịch y tế là một quá trình du lịch ra ngoài quốc gia cư trú với mục đích được điều trị và chăm sóc sức khoẻ. Điều này phù hợp với định nghĩa được cung cấp bởi Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS).

Trong đó một trong những phương thức cung cấp dịch vụ theo quy định của GATS là tiêu dùng ở nước ngoài, người tiêu dùng dịch vụ (cụ thể là khách du lịch hoặc bệnh nhân) di chuyển đến lãnh thổ hoặc quốc gia khác để có được dịch vụ chăm sóc sức khoẻ theo mong đợi.

Cả hai định nghĩa trên chỉ đề cập đến du lịch y tế ra nước ngoài, thiếu loại hình du lịch y tế nội địa. Tham luận này cho rằng nên hiểu du lịch y tế là một loại hình du lịch kết hợp với hoạt động y tế để phục vụ du khách. Bất cứ loại hình du lịch nào liên quan đến khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe đều được gọi là du lịch y tế.

Như vậy có thể hiểu: Du lịch y tế là các hoạt động liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu chính là khám, chữa bệnh và/hoặc chăm sóc sức khỏe kết hợp tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”.

6. Phân loại Du Lịch Y Tế

1) Theo cách phân loại du lịch dựa trên tiêu thức phạm vi lãnh thổ có thể chia du lịch y tế thành du lịch y tế nội địa và du lịch y tế quốc tế. Du lịch y tế nội địa là loại hình du lịch y tế mà điểm xuất phát và điểm đến của khách cùng nằm trong lãnh thổ của một quốc gia. Còn du lịch y tế quốc tế có thể hiểu là loại hình du lịch y tế mà điểm xuất phát và điểm đến của khách nằm ở lãnh thổ của các quốc gia khác nhau, khách du lịch phải qua biên giới và tiêu ngoại tệ ở nơi đến du lịch. Loại hình du lịch y tế quốc tế lại được chia thành du lịch y tế quốc tế đến và du lịch y tế quốc tế ra nước ngoài.

Tài liệu “Tìm hiểu lịch sử của du lịch y tế và 3 loại hình du lịch y tế” của Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh, 2019 cho biết: Trong thời gian qua, nhiều quốc gia đã nỗ lực phát triển du lịch y tế, từ đầu tư công nghệ đến công nhận các bệnh viện đủ điều kiện về chuyên môn kỹ thuật và cơ sở hạ tầng phù hợp để triển khai du lịch y tế.

Các quốc gia Châu Á đang dẫn đầu thu hút khách du lịch y tế như Malaysia, Singapore, Thái Lan, Ấn Độ, Hàn Quốc. Bên cạnh đó một vài quốc gia ở Châu Âu và Châu Mỹ Latinh như Romania và Costa Rica cũng đã vươn lên trong “top” đầu bảng xếp hạng hàng đầu về du lịch y tế.

Cả yếu tố cầu và yếu tố cung trong du lịch y tế đếu kích thích sự tăng trưởng của nó. Một số quốc gia như Columbia, Pakistan, Trung Quốc, Bôlivia và Brazil đang đẩy mạnh tiếp thị về hiến tạng, còn các nước Đông Nam Á đang tập trung vào phẫu thuật tim và spa, chăm sóc sức khỏe.

Thực tiễn hiện nay thường nói đến 3 loại hình du lịch y tế: 1) Du lịch y tế nội địa; 2) Du lịch y tế quốc tế; và 3) Du lịch y tế “Diaspora”.

Du lịch y tế nội địa, còn được gọi là du lịch y tế địa phương, là loại hình du lịch của các cá nhân du lịch từ địa phương này này sang địa phương khác trong cùng một quốc gia để tìm kiếm và sử dụng các dịch vụ khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ.

Ban đầu, thuật ngữ “du lịch y tế nội địa” được sử dụng ở Mỹ, cho công dân Mỹ đi qua ranh giới tiểu bang hoặc từ thành phố này sang thành phố khác với mục đích chăm sóc y tế.

Những lý do chính cho du lịch y tế trong nước là chi phí thấp hoặc tại địa phương cư trú không có kỹ thuật chăm sóc theo nhu cầu. Lợi thế của du lịch y tế nội địa là khoảng cách ngắn hơn và nhanh hơn so với du lịch y tế quốc tế; đồng thời giúp hạn chế thất thoát ngoại tệ ra nước ngoài.

Du lịch y tế quốc tế là loại hình mà khách du lịch đi từ quốc gia này sang quốc gia khác để chăm sóc y tế. Loại hình du lịch y tế quốc tế đòi hỏi khách du lịch phải đi một quãng đường dài hơn và mất nhiều thời gian hơn.

Loại hình du lịch y tế quốc tế khá phổ biến trong các nước thuộc Liên minh Châu Âu. Hầu hết tất cả các nước Châu Âu đều có hệ thống chăm sóc sức khỏe với độ bao phủ toàn dân ở mức độ cao, nhưng trong một số trường hợp, công dân Châu Âu có thể tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe ở các quốc gia thành viên EU khác.

Đức, Tây Ban Nha, Hungary và Bỉ là nước cung cấp cơ sở hạ tầng tốt và thu hút khách du lịch y tế từ nước ngoài đến điều trị. Ngày nay, thuật ngữ du lịch y tế quốc tế (xuyên biên giới) đã được toàn cầu hóa và trở nên vô cùng phổ biến trong những năm gần đây và trở thành một ngành đặc biệt trên phạm vi toàn cầu, nhất là ở các nước đang phát triển.

Du lịch y tế quốc tế đang mở rộng nhanh chóng, đặc biệt là ở khu vực Châu Á, nơi các quốc gia đang cạnh tranh thông qua các nỗ lực cung ứng các loại hình dịch vụ du lịch y tế và chiến lược tiếp thị trên toàn cầu.

Ở hầu hết các quốc gia phát triển như Anh, người dân không đủ khả năng với mức chi phí điều trị cao sẽ có các lựa chọn tốt hơn với chi phí điều trị y tế thấp hơn ở các nước Châu Á như Malaysia và Thái Lan.

Bên cạnh đó, Ấn Độ đã trở thành một trong những điểm đến được nhiều khách du lịch theo đuổi nhất nhờ chăm sóc sức khỏe chất lượng cao với các bác sĩ chuyên khoa có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao và sự sẵn có của y học cổ truyền.

Du lịch y tế “Diaspora” (Diaspora – bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “διασπορά”, có nghĩa là sự di trú của một nhóm người, có cùng nguồn gốc dân tộc, khỏi vùng đất định cư hay vùng đất tổ tiên).

Đây là loại hình du lịch y tế đặc biệt dành riêng cho những người có mối liên hệ về bản sắc văn hóa hoặc mối liên hệ gia đình tại nước đón khách. Diaspora bao gồm: kết hợp thăm gia đình, du lịch di sản văn hoá, du lịch y tế, du lịch kinh doanh. Loại hình du lịch y tế này thường được sử dụng bởi thế hệ người nhập cư đầu tiên hoặc thứ hai và họ có điều kiện du lịch trong nước hoặc quốc tế.

Thường gặp hơn là du lịch y tế “Diaspora” được thực hiện trong xã hội có chung sự tương đồng về môi trường văn hoá, gia đình, ngôn ngữ và có kỳ vọng thấp hơn so với các loại hình khác về chăm sóc sức khoẻ. Malaysia hiện đang dẫn đầu châu Á về loại hình du lịch y tế “Diaspora” này, đặc biệt là thu hút khách du lịch từ các quốc gia Trung Đông.

2) Theo cách phân loại hoạt động y tế dựa trên tiêu thức khám, điều trị và chăm sóc sức khỏe có thể chia du lịch y tế thành thành du lịch y tế khám chữa bệnh (Gọi vắn tắt là du lịch khám chữa bệnh” và du lịch y tế chăm sóc sức khỏe (Gọi vắn tắt là du lịch chăm sóc sức khỏe). Tại Tiểu mục này tham luận tập trung phân tích du lịch khám chữa bệnh, còn du lịch chăm sóc sức khỏe sẽ được trình bày kỹ trong phần dưới đây.

Tại sao lại ghép “du lịch” và “khám chữa bệnh” thành “du lịch khám chữa bệnh”?

Bởi vì hầu hết người đến khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế trong và ngoài nước thường phải lưu trú lại tại đó một thời gian để theo dõi, sau khi được chẩn đoán, can thiệp và điều trị.

Trong khi lưu trú lại, khách du lịch khám chữa bệnh có thể tận dụng chuyến đi để du lịch, tham gia các tour tham quan trong ngày, tham gia các hoạt động du lịch truyền thống khác.

Khởi đầu, thuật ngữ “du lịch khám, chữa bệnh” chỉ đề cập đến những cư dân ở các nước kém phát triển du lịch sang các nước đã phát triển để theo đuổi các phương pháp điều trị mà ở nước họ không có.

Nhưng ngày nay, đã có sự thay đổi ngược lại, cư dân ở những nước “giàu” hơn di chuyển sang các nước đang phát triển để tiếp cận các loại hình dịch vụ y tế, nhất là dịch vụ y học cổ truyền.

Sự thay đổi này là do: Một là chi phí cho các dịch vụ kỹ thuật ở các nước đang phát triển thấp hơn nhiều; Hai là sự sẵn có của các chuyến bay giá rẻ; và Ba là tác động của truyền thông và tiếp thị trực tuyến đến người tiêu dùng về các loại hình dịch vụ y tế của nước đón khách du lịch y tế khám, chữa bệnh.

7. Du lịch chăm sóc sức khỏe

Trong phần bên trên, tham luận đã dựa trên kết cấu ngôn ngữ, các nghiên cứu đi trước, các quy định của pháp luật trong nước và các quy định của các tổ chức liên quan để xác định khái niệm và làm rõ nội hàm của các cụm từ “Du lịch”, “Y tế”, “Du lịch y tế”, “Du lịch khám, chữa bệnh”.

Phần trên của tham luận cũng sử dụng các phương pháp nêu trên và dựa trên các kết quả để bàn về “Du lịch chăm sóc sức khỏe”, theo một logic dẫn dắt: Đi từ 2 cụm từ cấu thành là “Sức khỏe” và “Chăm sóc” để duy danh và định nghĩa “Du lịch chăm sóc sức khỏe”.

Từ xa xưa, ông bà ta đã coi sức khỏe là vàng, là tài sản mà không gì và chẳng ai có thể mua được. Khi cơ thể khỏe mạnh, tràn đầy sức sống, con người mới làm được những điều mình thích, làm những việc có ích cho đời, cho xã hội. Trong cuộc đời mỗi người, ai cũng phải làm lụng vất vả để mưu sinh, đến một ngày sức cùng, lực bất tòng tâm, không còn sức để làm những gì mình thích.

Chỉ đến khi đó, con người mới mới cảm thấy hối tiếc vì trước đó đã không quan tâm đúng mức đến sức khỏe của bản thân. Nếu muốn sống lành mạnh và cần phải sống lành mạnh không thể không quan tâm sức khỏe và biết cách chăm sóc sức khỏe.

7.1 Sức Khỏe

Có rất nhiều quan niệm khác nhau về “Sức khỏe”, nhưng cơ bản đều thống nhất sức khỏe là cụm từ có tính nhiều chiều, bao gồm sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần và sức khỏe xã hội.

Sức khỏe thể chất được thể hiện một cách tổng quát là sự sảng khoái và thoải mái về thể chất. Càng sảng khoái, thoải mái càng chứng tỏ là khoẻ mạnh.

Cơ sở của sự sảng khoái, thoải mái về thể chất là sức lực, sự nhanh nhẹn, sự dẻo dai, khả năng chống được các yếu tố gây bệnh, khả năng chịu đựng các điều kiện khắc nghiệt của môi trường.

Sức khỏe tinh thần là một phần của nền tảng sức khỏe. Trong khi sức khỏe thể chất rất dễ quan sát và có những biểu hiện cụ thể ra bên ngoài, thì sức khỏe tinh thần rất khó đoán định.

Sức khỏe tinh thần không phải chỉ là không bệnh tật. Một sức khỏe tinh thần tốt có nghĩa là một người hạnh phúc, quan tâm và hài lòng với cuộc sống của mình trong hầu hết thời gian.

Ở trong trạng thái này, con người sẽ cảm thấy mình thuộc về một cộng đồng và có suy nghĩ tích cực về thế giới bên ngoài; sẽ yêu thương bản thân, có những mối quan hệ tin tưởng và có khả năng giải quyết và đón nhận những thách thức trong cuộc sống.

Sức khỏe xã hội được hiểu như là sự thể hiện ở sự thoải mái trong các mối quan hệ chằng chịt giữa các cá nhân, tổ chức trong xóm, ngoài làng, nơi công cộng, cơ quan, cộng đồng…

Nó thể hiện ở sự được tán thành và chấp nhận của xã hội. Càng hoà nhập với mọi người, được mọi người đồng cảm, yêu mến càng có sức khỏe xã hội tốt và ngược lại.

Cơ sở của sức khỏe xã hội là sự thăng bằng giữa hoạt động và quyền lợi cá nhân, tổ chức với hoạt động và quyền lợi của xã hội, của những người khác; là sự hoà nhập giữa cá nhân, gia đình và xã hội.

Quan niệm sức khỏe của Tổ chức Y tế thế giới (WHO): “Sức khỏe là một trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không chỉ là không có bệnh hay thương tật” và được khẳng định tại Điểm 1, Bản Tuyên ngôn Alma-Ata năm 1978.

Như vậy, sức khỏe gồm ba thành tố: sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần, sức khỏe xã hội. Chỉ có thể hiểu khái niệm sức khỏe, khi và chỉ khi lĩnh hội được đầy đủ các thành tố trên.

Ngay từ năm 1989, Nhà nước Việt Nam đã xác định: “Sức khoẻ là vốn quý nhất của con người, là một trong những điều cơ bản để con người sống hạnh phúc, là mục tiêu và là nhân tố quan trọng trong việc phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và bảo vệ Tổ quốc” trong Lời mở đầu của Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân.

Quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về sức khỏe: Kế thừa và phát huy những tư tưởng truyền thống của dân tộc ta về sức khỏe, kết hợp với quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê-nin về phát triển con người toàn diện.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra quan niệm về sức khỏe rất giản dị và dễ hiểu nhưng lại chứa đựng cả một nội dung rộng lớn, nêu bật bản chất của vấn đề “khí huyết lưu thông, tinh thần đầy đủ, như vậy là sức khỏe”.

Quan niệm về sức khỏe của Người trước hết là sự thống nhất giữa hai yếu tố: thể chất và tinh thần, mang tính khái quát cao và rất hàm súc. Những yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe: Sức khỏe chịu tác động tổng hợp của các yếu tố thiên nhiên (vật lý, hóa học…), sinh học và kinh tế, xã hội…

Sự thay đổi của môi trường sinh thái, đặc biệt là môi trường xã hội, gây ra những tác hại xấu lên tâm lý, tình cảm của con người và là nguyên nhân gây ra những bệnh lý. Đó là những yếu tố được coi có tính quyết định đến sức khỏe con người.

7.2 Chăm sóc sức khỏe

Có nhiều quan niệm khác nhau về chăm sóc sức khỏe. Theo các nhà khoa học thì: “Chăm sóc sức khỏe là một quá trình tích cực thông qua đó mọi người nhận thức được và đưa ra lựa chọn để đạt trạng thái sức khỏe tiến triển tốt hơn” (Tiến sĩ Bill Hettler từ Viện Sức khỏe Quốc gia Hoa Kỳ – NWI).

“Có thể nói chăm sóc sức khỏe là cách tiếp cận về sức khỏe nhấn mạnh vào việc ngăn ngừa bệnh tật và kéo dài tuổi thọ, ngược lại với việc tập trung vào điều trị bệnh; duy trì sức khỏe thể chất và tinh thần tốt bằng chế độ ăn uống, tập thế dục và thói quen hợp lý, tích cực theo đuổi lối sống và trạng thái tốt cho sức khỏe” (Cooper và Cooper; Erfurt-Đức, 2009).

Nghị quyết 46/NĐ/TW ngày 23/02/2005 của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới khẳng định:

“Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe là bổn phận của mỗi người dân, mỗi gia đình và cộng đồng, là trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội góp phần bảo đảm nguồn nhân lực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước. Đầu tư cho công tác chăm sóc sức khỏe phải được coi là đầu tư cho phát triển, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ”.

Điều 1, Chương I, Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân năm 1989 quy định: “1. Công dân có quyền được bảo vệ sức khoẻ, nghỉ ngơi, giải trí, rèn luyện thân thể; được bảo đảm vệ sinh trong lao động, vệ sinh dinh dưỡng, vệ sinh môi trường sống và được phục vụ về chuyên môn y tế. 2. Bảo vệ sức khoẻ là sự nghiệp của toàn dân. Tất cả công dân có nghĩa vụ thực hiện nghiêm chỉnh những quy định của pháp luật về bảo vệ sức khoẻ nhân dân để giữ gìn sức khoẻ cho mình và cho mọi người”.

Tóm lại chăm sóc sức khỏe được hiểu là một quá trình tích cực mà thông qua đó con người nhận thức được, lựa chọn và thực hiện những giải pháp nhắm hướng đến một trạng thái hoàn toàn khỏe mạnh cả về sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần và sức khỏe xã hội.

Trong chăm sóc sức khỏe thì hệ thống chăm sóc sức khỏe có ảnh hưởng đáng kể đến trạng thái sức khỏe của người dân. Chất lượng điều trị và chăm sóc như thế nào, tình trạng thuốc men có đầy đủ hay không; khả năng tiếp cận với các dịch vụ của người dân (chi phí, khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế, thời gian chờ đợi…); thái độ của cán bộ y tế đối với người bệnh; trình độ chuyên môn của cán bộ y tế có đáp ứng được yêu cầu không; tính chất của hệ thống chăm sóc sức khỏe (chăm sóc sức khỏe đặc biệt chuyên sâu, y tế nhà nước hay y tế tư nhân).

Tình trạng sức khỏe cá nhân và cộng đồng tốt hay xấu phụ thuộc nhiều bởi tình trạng xấu hay tốt của những yếu tố trên thuộc hệ thống chăm sóc sức khỏe.

Bên cạnh đó, yếu tố hành vi và lối sống của con người có liên quan việc tạo ra, bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe, hoặc liên quan đến một vấn đề sức khỏe nhất định, như: hành vi tập thể dục, hành vi về dinh dưỡng, về vệ sinh môi trường, hành vi du lịch đề chăm sóc sức khoẻ…

Hành vi sức khỏe cá nhân là trọng tâm của quá trình giáo dục và nghiên cứu sức khỏe. Hành vi và lối sống không lành mạnh được xem là nguyên nhân dẫn đến bệnh tật, tử vong và các vấn đề sức khỏe khác.

7.3 Du lịch chăm sóc sức khỏe

Đã có lúc trong thực tiễn, du lịch chăm sóc sức khỏe còn bị đồng nhất với du lịch khám chữa bệnh; có nhiều cá nhân và tổ chức coi là du lịch y tế.

Nhưng qua các phân tích ở trên có thể khẳng định du lịch y tế bao gồm du lịch khám, chữa bệnh và du lịch chăm sóc sức khỏe. Để có những dẫn chứng về sự chưa thống nhất về khái niệm “Du lịch chăm sóc sức khỏe”, tham luận xin trích dẫn một số định nghĩa sau:

Theo Connell (2006): “Du lịch sức khoẻ (health tourism), du lịch chăm sóc sức khỏe (wellness tourism), du lịch chưa bệnh (medical tourism), du lịch dịch vụ spa (spa tourism)… là các loại hình du lịch mà ở đó, khách du lịch sẽ dành thời gian rỗi để cải thiện sức khoẻ… không chỉ về mặt thể chất mà còn phải cả về mặt tinh thần của du khách”. (A Modern Synthesis by Joanne Connell (2006-06-30).

Theo Anne Dimon (Chủ tịch Hiệp hội Du lịch chăm sóc sức khỏe Canada, Người sáng lập và biên tập viên của Tạp chí Du lịch về Sức khỏe) thì: “Du lịch chăm sóc sức khỏe là du lịch với mục đích thúc đẩy sức khỏe và hạnh phúc thông qua các hoạt động thể chất, tâm lý hoặc tinh thần… Mặc dù du lịch chăm sóc sức khỏe thường tương quan với du lịch y tế vì lợi ích sức khỏe thúc đẩy du khách, khách du lịch chăm sóc sức khỏe chủ động tìm cách cải thiện hoặc duy trì sức khỏe và chất lượng cuộc sống, thường tập trung vào phòng ngừa, trong khi khách du lịch y tế thường đi du lịch phản ứng để được điều trị một bệnh được chẩn đoán hoặc giải quyết tình trạng sức khỏe”.

Smith Kelly (Trưởng Khoa Sinh lý học trường Đại học Melbourne) năm 2006 xác định: “Du lịch chăm sóc sức khỏe là tổng hợp của tất cả các mối quan hệ và hiện tượng trong hành trình và lưu trú của những người có động cơ chính là để bảo vệ hoặc tăng cường sức khỏe của họ. Họ ở lại trong một khách sạn chuyên cung cấp các bí quyết chuyên nghiệp và phù hợp để phù hợp chăm sóc cá nhân. Họ yêu cầu một gói dịch vụ toàn diện bao gồm chăm sóc thể chất, sắc đẹp hoặc các yếu tố khác như chế độ ăn uống, dinh dưỡng lành mạnh, thư giãn, thiền định và các hoạt động liên quan đến thể chất và tinh thần.”

Tiến sĩ Prem Jagyasi (Người Ấn Độ, tác giả của nhiều công trình nghiên cứu về du lịch y tế, chăm sóc sức khỏe toàn cầu và du lịch chăm sóc sức khỏe) cho rằng: “Du lịch chăm sóc sức khỏe là quá trình du khách tìm kiếm một hành trình cụ thể để cải thiện hoặc tăng cường sức khỏe và phúc lợi của họ. Khách du lịch sẽ ở trong một điểm đến cụ thể nơi họ sẽ được cung cấp các hoạt động thể chất khác nhau, tăng cường sức khỏe, phương pháp thư giãn và thực phẩm bổ dưỡng trong một gói toàn diện”.

Müller và Kaufmann (Müller, H. và Kaufmann, E.L) trong nghiên cứu “Du lịch chăm sóc sức khỏe: Phân tích thị trường du lịch chắm sóc sức khỏe và áp dụng trong khách sạn – 2001)” định nghĩa:

“Du lịch chăm sóc sức khỏe được xem như một sự tổng hoà của các mối quan hệ và các hiện tượng là kết quả từ sự thay đổi về địa điểm và nơi cư trú được thực hiện bởi con người nhằm làm tăng hoặc ổn định hay thậm chí là để nhằm phục hồi thể chất, tinh thần và tình trạng khoẻ mạnh hay hạnh phúc khi được trải nghiệm các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ và đồng thời là sự tác động bởi chính điểm đến, con người, môi trường, nơi mà người đó đến sử dụng dịch vụ”.

Theo Viện Sức khỏe Toàn cầu: “Du lịch chăm sóc sức khỏe là du lịch gắn liền với việc theo đuổi, duy trì hoặc nâng cao phúc lợi cá nhân… Du lịch chăm sóc sức khỏe bao gồm những người đi du lịch đến một nơi khác để chủ động theo đuổi các hoạt động duy trì hoặc tăng cường sức khỏe cá nhân của họ, và những người đang tìm kiếm trải nghiệm độc đáo, xác thực hoặc dựa trên địa điểm không có sẵn ở nhà”.

Định nghĩa này được công bố năm 2013, được được chấp nhận, trích dẫn và sử dụng rộng rãi trong giai đoạn hiện nay, góp phần quan trọng vào việc xác định các thông số và đặc điểm của loại hình du lịch chăm sóc sức khỏe.

Từ các định nghĩa nêu trên, dựa trên cơ sở Du lịch học và Y tế học cũng với các quy định của các tổ chức và quốc gia liên quan, có thể hiểu: “Du lịch chăm sóc sức khỏe là sự tổng hoà các mối quan hệ và các hiện tượng nảy sinh từ việc rời khỏi nơi nơi cư trú thường xuyên của khách du lịch đến các địa điểm phù hợp nhằm làm tăng hoặc ổn định, phục hồi thể chất, tinh thần và tình trạng khoẻ mạnh hay hạnh phúc khi được trải nghiệm các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ và đồng thời là sự tác động bởi chính điểm đến, con người, môi trường, nơi mà du khách đó đến sử dụng dịch vụ”.

Có thể khẳng định du lịch chăm sóc sức khỏe và du lịch khám chữa bệnh là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau, không thể gộp chung làm một.

Trong khi du lịch khám, chữa bệnh được hình thành khi con người có nhu cầu du lịch đến nơi có điều kiện y tế, khám chữa bệnh tốt hơn và bản thân người đó đã mang bệnh sẵn.

Còn du lịch chăm sóc sức khỏe có ý nghĩa phòng bệnh, những ai muốn hướng đến một cuộc sống khỏe mạnh, nâng cao chất lượng đời sống thì có thể lựa chọn loại hình du lịch chăm sóc sức khỏe.

Bản thân người đó không nhất thiết phải mang mầm bệnh mà việc họ lựa chọn du lịch chăm sóc sức khỏe nhằm để thư giãn xả stress, nghỉ ngơi, tạm quên đi những tiêu cực xảy ra trong cuộc sống hằng ngày.

Du lịch khám chữa bệnh phần lớn mục đích là để chữa bệnh, tham gia vào chẩn đoán điều trị, được giám sát, theo dõi của các y bác sĩ. Trong khi đó, du lịch chăm sóc sức khỏe hoàn toàn không có sự xâm lấn mang tính chất y học.

Tuy vậy, vẫn có nhiều tổ chức, cá nhân, thậm chí là các đơn vị cung cấp dịch vụ vẫn còn sự nhầm lẫn về 2 loại hình du lịch nay và khong khỏi nhầm lẫn trong việc tiếp thị và cung ứng dịch vụ cho từng loại hình du lịch tương ứng.

7.4 Phân loại du lịch chăm sóc sức khỏe

Dựa theo cách phân loại du lịch y tế, cũng có thể phân loại du lịch chăm sóc sức khỏe theo hai cách:

1) Phân loại du lịch chăm sóc sức khỏe dựa trên tiêu thức phạm vi lãnh thổ: Có thể chia du lịch chăm sóc sức khỏe thành thành du lịch chăm sóc sức khỏe nội địa và du lịch chăm sóc sức khỏe quốc tế.

Du lịch chăm sóc sức khỏe nội địa là loại hình du lịch chăm sóc sức khỏe mà điểm xuất phát và điểm đến của khách cùng nằm trong lãnh thổ của một quốc gia.

Còn du lịch chăm sóc sức khỏe quốc tế có thể hiểu là loại hình du lịch chăm sóc sức khỏe mà điểm xuất phát và điểm đến của khách nằm ở lãnh thổ của các quốc gia khác nhau, khách du lịch phải qua biên giới và tiêu ngoại tệ ở nơi đến du lịch.

Loại hình du lịch chăm sóc sức khỏe quốc tế đối với một quốc gia lại có thể chia thành du lịch chăm sóc sức khỏe quốc tế đến và du lịch chăm sóc sức khỏe quốc tế ra nước ngoài.

2) Phân loại theo xuất phát điểm của mục đích du lịch chăm sóc sức khỏe: Có thể chia du lịch chăm sóc sức khỏe thành thành du lịch chăm sóc sức khỏe sơ cấp và du lịch chăm sóc sức khỏe thứ cấp.

Du lịch chăm sóc sức khỏe sơ cấp là loại hình du lịch mà mục đích ban đầu chủ yếu là để cải thiện, chăm sóc sức khỏe. Còn du lịch chăm sóc sức khỏe thứ cấp là loại hình du lịch mà mục đích chăm sóc sức khỏe nảy sinh trong chuyến du lịch với mục đích khác như tham quan, giải trí, du lịch MICE.

8. Tóm lại

Tuy nói rằng xu hướng du lịch chăm sóc đang phổ biến tại các quốc gia là thực tế. Nhưng, loại hình du lịch này xét ở trên diện rộng toàn cầu thì vẫn còn là loại hình du lịch khá mới mẻ. Khách hàng của du lịch chăm sóc sức khỏe là những người muốn tìm kiếm sự cân bằng trong thể chất và tinh thần.

Trong loại hình du lịch chăm sóc sức khỏe có sự kết hợp giữa du lịch với y tế, nhưng không có sự xâm nhập hoặc can thiệp y tế, mà các liệu trình chăm sóc sức khỏe chuyên biệt như như thiền, yoga, massage hàng ngày, giúp thải độc, thanh lọc và trẻ hóa cơ thể thông qua chế độ ăn uống riêng được các chuyên gia, bác sĩ đã có kinh nghiệm thiết kế.

Du lịch chăm sóc sức khỏe còn sơ khai ở Việt Nam. Đối tượng khách hàng chủ yếu hướng đến là những người Việt Nam và người nước ngoài đã vững vàng về thu nhập, có thời gian rỗi dành riêng cho bản thân để khám phá thiên nhiên, văn hóa các địa phương, vùng, miền, quốc gia và vùng lãnh thổ khác.

Những liệu trình chăm sóc sức khỏe ở những điểm du lịch chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam cũng chưa thật chuyên nghiệp. Những mô hình kinh doanh du lịch chăm sóc sức khỏe đã được hình thành, đang ở giai đoạn đầu, nhưng được đánh giá có rất nhiều tiềm năng, hứa hẹn sẽ phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới.

Nhất là trong bối cảnh hội nhập quốc tế cao, dưới tác động sâu sắc, toàn diện của cách mạng công nghiệp 4.0 và trong trạng thái bình thường mới của các cuộc khủng hoảng có thể xảy ra, hiện nay là đại dịch COVID-19.

Muốn vậy các bên liên quan phải chuẩn bị về mọi mặt, đặc biệt là sự chuẩn hóa trong nhận thức cả về lý luận và thực tiễn về loại hình du lịch chăm sóc sức khỏe để có chủ trương đúng, giải pháp khả thi, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho sự phát triển bền vững.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Asia Healthcare Summit 2020, Diễn đàn Y tế Châu Á, 2020.
2. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Truy cập lúc 14 giờ 00 ngày 09/7/2021
3. Chiến lược phát triển sản phẩm du lịch đến năm 2025, định hướng đến 2030, Quyết định số 2714/QĐ- BVHTTDL Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, 2016.
4. Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030, Thủ tướng Chính phủ, 2020.
5. Du lịch Chăm sóc sức khỏe, Nghiên cứu Giải trí Du lịch, Tập. 31.1, Melanie Smith và Catherine Kelly, 2016.
6. Du lịch Sức khoẻ – “Sự tích hợp của sức khỏe và y tế Wellness”, Tạp chí Du lịch chăm sóc sức khỏe ngày 15/7/2009, Renee-Marie Stephano và Christin Erazo, 2009.
7. Du lịch và Lữ hành: Tác động kinh tế 2018, Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới WTTC, 2018.
8. “Du lịch y tế: Nhiều cơ hội, lắm thách thức“, Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM, 2020.
9. Fareast goes West – new opportunities for Asian brands in Europe. Asia Pacific Journal of Marketing and Logistics, 15(3), pp.20-33, Fuchs, H.J., 2003.
10. Global Wellness Tourism Economy, 11/2018, Viện Sức khỏe toàn cầu, 2018.
11. Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 4, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia-Sự Thật, Hà Nội, 2011,
12. Kỷ yếu Hội thảo “Ngành Y tế cần làm gì để thu hút đầu tư?“, thesaigontimes.vn. Tạp chí thời báo kinh tế Sài Gòn
13. Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân năm (1989), số: 21-LCT/HĐNN8, Quốc hội, 1989.
14. Luật Du lịch Việt Nam (2017), số: 09/2017/QH14, Quốc hội, 2017.
15. Luận văn thạc sĩ “Phát triển du lịch chăm sóc sức khỏe ở Nha Trang, Khánh Hòa”, Vũ Thùy Trang, 2020.
16. Medical Tourism: “Globalization of the Healthcare Marketplace”. MedGenMed. 9: 33. PMC 2234298. PMID 18311383, Horowitz, Michael D.; Rosensweig, Jeffrey A.; Jones, Christopher A, 2007.
17. Medical tourism: Need surgery, will travel” CBC News Online, 18 tháng 6 năm 2004, truy cập 15 tháng 7 năm 2021.
18. “Medical tourism growing worldwide” by Becca Hutchinson, UDaily, 25 tháng 7 năm 2005, truy cập 11 tháng 7 năm 2021.
19. Medical Tourism: Hidden dimensions, Wayback Machine by Rabindra Seth, Express Hospitality, June, 2006. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2021.
20. Medi-Venture 2015: large space for healthcare development in Vietnam, Vietnam Investment Review (Báo Đầu tư, Bộ Tài chính), 2015.
21. Mind, Body and Spirit: Health and Wellness Tourism in Asia. In C. Janet, ed. Asian Tourism: Growth and Change. 1st ed. Amsterdam; London: Elsevier. pp.379-90, Laing, J. & Weiler, B., 2008.
22. Nhiều lợi thế cạnh tranh, Việt Nam trở thành điểm đến du lịch chữa bệnh của khách quốc tế, Sở Du lịch Hà Nội, 2019.
23. Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Thủ tướng Chính Phủ, 2013.
24. Tạo sức hút cho y tế Việt Nam, sggp.org.vn. Báo Sài Gòn Giải phóng, 2019.
25. Thông tư 53/2014/TT-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định điều kiện hoạt động y tế trên môi trường mạng thì hoạt động y tế, 2014
26. Tiềm năng cả tỉ USD từ du lịch y tế, nld.com.vn. Báo Người Lao Động.
27. Tìm hiểu lịch sử của du lịch y tế và 3 loại hình du lịch y tế, Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh, 2019.
28. Tuyên ngôn Alma-Ata năm1978 của Tổ chức Y tế Thế giới, 1978.
29. Wellness Tourism and Medical Tourism: Where Do Spas Fit, Hội nghị Thượng đỉnh Spa toàn cầu, 2017.
30. Wellness Tourism: Market Analysis of a Special Health Tourism Segment and Implications for the Hotel Industry. Journal of Vacation Marketing, 7, 5-17, Mueller, H. and Kaufmann, E.L, 2001
31. Health Tourism 2.0 (PDF). World Health Tourism Congress. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 29 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2021.
32. Luhanhvietnam.com.vn, 2019. [Online] Available at: luhanhvietnam.com.vn/du-lich/kham-pha-le-hoi-khanh-hoa.html, Truy cập 10/7/2021.
33. The Sustainable tourism, 2019, Available at: crctourism.com.au
34. Travel to wellness, 2019, Available at: traveltowellness.com

TS. Nguyễn Văn Lưu

Xem thêm bài viết: Bàn về du lịch chăm sóc sức khỏe du lịch y tế ở Việt Nam

Bạn đang xem bài viết:
Một số khái niệm và vấn đề về du lịch chăm sóc sức khỏe
Link https://myhocdaicuong.com/du-lich/mot-so-khai-niem-va-van-de-ve-du-lich-cham-soc-suc-khoe.html

Các tìm kiếm có liên quan: App chăm sóc sức khỏe; App du lịch chăm sóc sức khỏe Việt Nam; Bí quyết chăm sóc sức khỏe; Bí quyết vàng chăm sóc sức khỏe gia đình; Cách chăm sóc sức khỏe tại nhà; Cẩm nang chăm sóc sức khỏe gia đình; Chăm sóc sức khỏe tại nhà;

Các tìm kiếm có liên quan: Chăm sóc sức khỏe tại nhà phiên bản dành cho chuyên gia; Dịch vụ chăm sóc sức khỏe; Hệ thống chăm sóc sức khỏe; Hiểu về chăm sóc sức khỏe toàn diện; Kiến thức chăm sóc sức khỏe; Sản phẩm chăm sóc sức khỏe; Sổ sức khỏe điện tử 4+; Tư vấn chăm sóc sức khoẻ.

Chia sẻ bài viết: