Du lịch chăm sóc sức khỏe ý nghĩa xu hướng và sự khác biệt du lịch y tế

du lich cham soc suc khoe y nghia xu huong va su khac biet du lich y te

Du lịch chăm sóc sức khỏe (tên tiếng Anh: wellness tourism, viết tắt là DL CSSK) đã được hình thành từ lâu ở các quốc gia, điểm đến có nền y học truyền thống phát triển, các điểm du lịch có điều kiện sinh, khoáng tự nhiên hữu ích.

Loại hình này kết hợp giữa healthy – sức khỏe thể chất và spiritual – sức khỏe tinh thần, nhằm mang đến cho khách những dịch vụ chăm sóc sức khỏe tối ưu và toàn diện nhất, cân bằng và duy trì, phục hồi cảm xúc trong tâm hồn, hình thành lối sống lành mạnh, mang lại niềm vui, suy nghĩ tích cực sau chuyến trải nghiệm thông qua hoạt động thể chất, tâm lý và/hoặc tâm linh, bằng cách thúc đẩy sự tham gia tích cực giữa con người, văn hóa và thiên nhiên.

Sản phẩm, dịch vụ, yêu cầu nhân lực, thị trường của du lịch y tế và du lịch chăm sóc sức khỏe khác nhau dù đều hướng tới mục tiêu sức khỏe. Du lịch y tế liên quan trực tiếp đến cơ sở y tế, khách hàng đã và đang mang bệnh cần chữa trị hoặc muốn phẫu thuật thẩm mỹ.

Du lịch chăm sóc sức khỏe mang tính chủ động phòng ngừa, người tham gia không nhất thiết mang mầm bệnh, chọn dịch vụ để nghỉ ngơi, thư giãn nhằm cải thiện lối sống, loại bỏ suy nghĩ tiêu cực, giảm căng thẳng, hướng đến lợi ích sức khỏe toàn diện.

Nhiều tài liệu cho thấy sự tăng trưởng nhanh của lĩnh vực kinh doanh cũng như sự mở rộng của thị trường du lịch chăm sóc sức khỏe. Báo cáo của Viện nghiên cứu Chăm sóc Sức khỏe Toàn cầu (Global Wellnes Institute – GWI) đã ước tính quy mô toàn cầu và nhấn mạnh sự tác động sâu rộng đến nền kinh tế của DL CSSK.

Hiệp hội Du lịch chăm sóc sức khỏe thế giới đã đưa ra 07 xu hướng của du lịch chăm sóc sức khỏe trong thời gian tới, đặc biệt từ sau khi diễn ra đại dịch covid 19.

Các nhà hoạch định chính sách cần đẩy mạnh các biện pháp chăm sóc sức khỏe thông qua việc tạo môi trường sống trong lành, khuyến khích hoạt động thể chất và ăn uống giữ gìn, phát triển lực lượng nhân sự và sản phẩm dịch vụ chăm sóc sức khỏe.

Ngành du lịch Việt Nam cần xem xét, nhận diện các xu hướng này, sớm đưa ra những sản phẩm phù hợp để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của thị trường trong giai đoạn tiếp theo.

1. Ý nghĩa của Du lịch chăm sóc sức khỏe

Trên thế giới, du lịch chăm sóc sức khỏe (tên tiếng Anh: wellness tourism, viết tắt là du lịch CSSK đã được hình thành từ rất lâu ở các quốc gia, điểm đến có nền y học truyền thống phát triển, ở các điểm du lịch có điều kiện sinh, khoáng tự nhiên hữu ích.

Các nhà nghiên cứu Smith và Puczko (2015: 206) đưa ra định nghĩa cụm từ “wellness” (tạm dịch là chăm sóc sức khỏe) bao gồm tất cả các mặt của cuộc sống con người như “khỏe về thể chất, tinh thần, tâm tính, đức tin, tự chịu trách nhiệm, hài hòa với xã hội, có lợi với môi trường, phát triển theo hướng thông minh, thỏa mãn và hài lòng.

Viện nghiên cứu Chăm sóc Sức khỏe Toàn cầu (Global Wellnes Institute – GWI), một tổ chức phi lợi nhuận được thành lập từ năm 2014 với vai trò nghiên cứu về ngành chăm sóc sức khỏe toàn cầu đã đưa ra rất nhiều những báo cáo liên quan đến xu hướng du lịch chăm sóc sức khỏe.

Theo GWI, Du lịch chăm sóc sức khỏe được định nghĩa là một loại hình du lịch nhằm giúp cho khách được khỏe mạnh về mọi mặt. Theo Voigt và Pforr (2013:3), du lịch chăm sóc sức khỏe đề cập đến một khía cạnh khác của sức khỏe, đó là sự cân bằng và hài hòa về tổng thể đối với các yếu tố làm nên sức khỏe, gồm cả cơ thể, tâm hồn và tâm linh, môi trường và xã hội.

Loại hình này kết hợp giữa healthy – sức khỏe thể chất và spiritual – sức khỏe tinh thần, nhằm mục đích mang đến cho du khách những dịch vụ chăm sóc sức khỏe tối ưu và toàn diện nhất, cân bằng và duy trì, phục hồi cảm xúc trong tâm hồn, hình thành lối sống lành mạnh, mang lại niềm vui, suy nghĩ tích cực sau chuyến trải nghiệm thông qua các hoạt động thể chất, tâm lý và/hoặc tâm linh, bằng cách thúc đẩy sự tham gia tích cực giữa con người, văn hóa và thiên nhiên.

Thông thường khách tham gia loại hình này được nghỉ dưỡng, tách biệt khỏi những ảnh hưởng tiêu cực, căng thẳng lo lắng hàng ngày, tạo cho khách sự cởi mở, đón nhận thay đổi tích cực về sức khỏe sau khi đi du lịch. Khách không phải dùng thuốc mà dùng dịch vụ mang tính trị liệu và có thể mang lại hiệu quả không ngờ Voigt (2013).

2. Du lịch chăm sóc sức khỏe khác với du lịch y tế

Sản phẩm, dịch vụ, yêu cầu trình độ nhân lực phục vụ của du lịch y tế và du lịch chăm sóc sức khỏe là khác nhau dù đều hướng tới mục tiêu sức khỏe. Do đó, nhu cầu và thị trường hai loại hình này cũng rất khác nhau.

Du lịch y tế liên quan trực tiếp đến các cơ sở y tế, thẩm mỹ viện. Khách hàng tới nơi có điều kiện y tế, khám chữa bệnh tốt và phù hợp khi bản thân người đó đã và đang mang bệnh, cần có sự chữa trị hoặc muốn can thiệp phẫu thuật thẩm mỹ.

Học giả Connell trong nghiên cứu của mình đã chỉ ra sự khẩn cấp của loại hình này, nhu cầu của khách chủ yếu đến từ các nước phát triển với chi phí cao, có thể không ở nơi có môi trường tự nhiên thật sự tốt, trong lành (Connell, 2006b; Laing và Weiler, 2007).

Thí dụ khu trung tâm thể chất, giảm cân hướng tới mục tiêu giảm cân với những chương trình cụ thể về luyện tập thể chất, dinh dưỡng trong những khung giờ cố định (Gately và cộng sự, 2000). Trên thực tế, sản phẩm du lịch y tế như các tour du lịch kết hợp chỉnh nha đã xuất hiện nhiều ở TP. HCM những năm gần đây.

Còn du lịch chăm sóc sức khỏe lại mang tính chủ động phòng ngừa, tức người tham gia du lịch không nhất thiết phải mang mầm bệnh, họ lựa chọn dịch vụ này với mục đích nghỉ ngơi, thư giãn nhằm hình thành, cải thiện lối sống lành mạnh, tiêu trừ suy nghĩ tiêu cực, giảm căng thẳng, hướng đến những ích lợi toàn diện cho sức khỏe, cả về vật chất lẫn tinh thần.

Theo Smith và Puczko, du lịch chăm sóc sức khỏe có ý nghĩa rộng hơn so với spa chăm sóc sức khỏe, vì nó còn bao hàm cả dịch vụ ẩm thực, các phương thức thể thao hợp lý tốt cho cơ thể và tinh thần, chương trình chống lão hóa, học hỏi, thử thách, làm phong phú tâm hồn và phát triển bản thân, tất cả đều hướng tới một mục đích trung tâm.

Du lịch chăm sóc sức khỏe là “sự vắng bóng của bệnh tật, mỏi mệt, căng thẳng nhưng vẫn đạt được mục đích sống, với các mối quan hệ vui vẻ, hài lòng với công việc, thực hiện mọi thứ theo chiều hướng tích cực, có được hạnh phúc, cơ thể khỏe mạnh và môi trường sống động”.

Năm 2017, trong khuôn khổ Hội chợ du lịch thế giới WTM ở Anh, tại một buổi hội thảo về du lịch CSSK, tổ chức GWI đã công bố một báo cáo liên quan đến du lịch CSSK mang tên Global Wellness Tourism Economy NOVEMBER 2018.

Chỉ ra rằng du lịch CSSK gắn liền với việc theo đuổi duy trì hoặc nâng cao phúc lợi cá nhân mà ở đây sẽ có 2 loại chính đó là du lịch chăm sóc sức khỏe chính và du lịch chăm sóc sức khỏe thứ cấp.

Tài liệu này cũng chỉ ra rằng du lịch sức khỏe (Health tourism) là một khái niệm rộng lớn bao hàm loại hình du lịch du lịch y tế (Medical tourism) và du lịch chăm sóc sức khỏe (Wellness tourism).

Họ cho rằng du lịch chữa bệnh (Medical tourism) là loại hình du lịch gắn liền với việc giải quyết vấn đề có thể có phẫu thuật hoặc không trong khi đó du lịch CSSK (Wellness tourism) lại mang yếu tố chủ động hơn về phòng ngừa và nâng cao chất lượng cuộc sống.

Điều đặc biệt là sau khi nghiên cứu thông qua các số liệu thống kê, báo cáo đã cho thấy du lịch CSSK chiếm một thị trường lớn hơn so với du lịch y tế với 10 thị trường hàng đầu gồm: Hoa Kỳ, Đức, Pháp, Trung Quốc, Nhật Bản, Úc, Canada, Anh, Ý, Mexico.

Tài liệu cung cấp một số dẫn chứng cho thấy sự tăng trưởng nhanh cũng như ngày càng có nhiều người đi du lịch chăm sóc sức khỏe.

3. Xu hướng của Du lịch chăm sóc sức khỏe khác với du lịch y tế

Trang tin Personalhealthnews (PHN) của Canada, trích dẫn kết quả nghiên cứu của Đại học British Columbia Okanagan (UBCO) cho hay, lối sống hiện đại khiến con người ít vận động, trong khi đó dân số lại đang già đi với tốc độ chóng mặt nên du lịch wellness càng phát huy thế mạnh.

Theo GWI, trong 10 năm từ 2010 đến 2018, khách của thị trường ngách tham gia du lịch chăm sóc sức khỏe có sự tăng trưởng nhanh nhất. Năm 2013, GWI đã công bố phiên khai mạc của báo cáo Kinh tế Du lịch Sức khỏe Toàn cầu, một nghiên cứu mang tính bước ngoặt xác định các thông số và đặc điểm của ngành du lịch chăm sóc sức khỏe mới nổi.

Báo cáo này đã ước tính quy mô toàn cầu và nhấn mạnh sự tác động sâu rộng đến nền kinh tế của du lịch CSSK. Kể từ đó, phân khúc du lịch này đã tăng tốc trên toàn thế giới.

Nguyên nhân chính của sự tăng tốc này là con người đang ngày càng phải đối diện với nhiều yếu tố chủ quan và khách quan về sự tồn tại và phát triển mang lại nhiều áp lực, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống cũng như hiệu quả công việc;

Bên cạnh đó sự tiêu thụ quá mức tài nguyên, thiên tai ô nhiễm dịch bệnh ngày càng nhiều, ảnh hưởng đến sức khỏe, nhu cầu giải tỏa căng thẳng, duy trì và tăng cường sức khỏe ngày một gia tăng.

Ngành du lịch chăm sóc sức khỏe đóng vai trò quan trọng để chuyển sự tăng trưởng về hoạt động kinh doanh du lịch sang hướng mới có nhiều cải thiệu về mục tiêu cân bằng, có lợi hơn cho sức khỏe và môi trường.

Nghiên cứu của Lade, C, Strickland, P., Frew, E., Willard, P., Osorio, S.C., Nagpal về tương lai của ngành du lịch chăm sóc sức khỏe đã chỉ ra mối liên hệ giữa sức khỏe, việc chăm sóc sức khỏe, spa và du lịch y tế, nhận định xu hướng hiện tại của du lịch chăm sóc sức khỏe, liệt kê các mô hình sản phẩm và các nhà cung cấp dịch vụ khác nhau, đánh giá hướng phát triển sắp tới và vị trí của ngành du lịch chăm sóc sức khỏe đối với sự phát triển du lịch nói chung và điểm đến du lịch nói riêng. Nghiên cứu này cũng trình bày một kết quả khảo sát mô hình thành công tại Thái Lan với sản phẩm spa chăm sóc sức khỏe (chương 9).

Năm 2014 tại Hội chợ WTM lần thứ 35 được tổ chức từ ngày 03 đến ngày 06 tháng 11 năm 2014 tại Trung tâm Triển lãm Excel, Luân Đôn, Vương Quốc Anh, đã diễn ra một chuỗi các buổi hội thảo đề cập đến những xu hướng phát triển du lịch toàn cầu như du lịch có trách nhiệm, du lịch tàu biển…

Đặc biệt, buổi hội thảo mang tên “Du lịch chăm sóc sức khỏe là gì” (What Exactly is Wellness Tourism) kéo dài khoảng 1 giờ đồng hồ với các nội dung xoay quanh chủ đề về du lịch CSSK.

Tại hội thảo du lịch CSSK được nhắc đến như là một hình thức du lịch đẳng cấp kết hợp giữa du lịch với spa và chữa bệnh, hội thảo đã góp phần làm sáng tỏ khái niệm du lịch CSSK một khái niệm còn mới, đồng thời chỉ ra nhưng lý do thuyết phục cho thấy du lịch chăm sóc sức khỏe sẽ tiếp tục phát triển mạnh và trở thành một xu hướng toàn cầu.

Theo báo cáo của GWI, du lịch CSSK là một thị trường mang tính toàn cầu trị giá 639 tỷ đô la trong năm 2017, khách du lịch từ khắp nơi trên thế giới đã thực hiện 830 triệu chuyến nghỉ dưỡng trong năm 2017, nhiều hơn 135 triệu chuyến so với năm 2015, tăng trưởng nhanh gấp đôi so với du lịch nói chung.

Phân tích các dữ liệu và xu hướng thì có đến hàng chục quốc gia và các ban du lịch quốc gia đang tích cực thúc đẩy du lịch chăm sóc sức khỏe. Cũng theo tổ chức này, du lịch chăm sóc sức khỏe đã bùng nổ trong ý thức của người tiêu dùng chỉ một vài năm trước đây và khó để nắm bắt được tốc độ tăng trưởng và tiến hóa của nó.

Sức khỏe, sự hiếu khách và du lịch hiện đang hội tụ theo những cách chưa từng có, từ những khái niệm xuất hiện như “khách sạn chăm sóc sức khỏe” (wellness hotel) hoàn toàn chính thống hay việc thông qua các sân bay, hãng hàng không và du lịch trên biển để truyền tải nhiều chương trình chăm sóc sức khỏe, sáng tạo và các chương trình du lịch lồng ghép.

Khái niệm chăm sóc sức khỏe đang thay đổi gần như mọi khía cạnh của du lịch và du lịch CSSK sẽ phát triển nhanh hơn trong những năm tới vì nằm ở giao điểm mạnh mẽ của hai ngành công nghiệp lớn đang bùng nổ: ngành du lịch trị giá 2,6 nghìn tỷ đô la và thị trường chăm sóc sức khỏe trị giá 4,2 nghìn tỷ đô la.

Cũng theo dự đoán của GWI, mô hình mới mẻ này sẽ tiếp tục tăng trưởng với tốc độ trung bình hằng năm là 7.5% và đến năm 2022 có thể đạt mức 919 tỉ đô la, chiếm 18% tỷ trọng thị trường du lịch toàn thế giới.

Tuy đại dịch covid sẽ làm cho những số liệu thực tế về quy mô này thấp hơn nhiều so với dự báo nhưng nhu cầu và tỷ trọng của loại hình du lịch chăm sóc sức khỏe trong toàn ngành du lịch lại sẽ tăng cao hơn.

Theo báo cáo của Ngân hàng phát triển châu Á (Asian Development Outlook (ADO) 2020 Update: Wellness in Worrying Times), sự đe dọa của dịch bệnh và sự cần thiết có các biện pháp phòng ngừa khiến loại hình du lịch chăm sóc sức khỏe càng được quan tâm hơn. Các quốc gia châu Á Thái Bình Dương cần được hỗ trợ để phục hồi sau ảnh hưởng của đại dịch.

Hiệp hội Du lịch chăm sóc sức khỏe thế giới (WTA – Wellness Tourism Association) được thành lập năm 2018 với vai trò cơ quan phát ngôn quan trọng của mạng lưới toàn cầu để marketing điểm đến, gồm các thành viên đến từ các khách sạn, khu nghỉ dưỡng, khu giải trí, điều hành tour, tư vấn du lịch, cơ sở chăm sóc sức khỏe, truyền thông, báo chí, các đối tác đã thể hiện rõ sự quan tâm của tất cả ngành du lịch đối với loại hình du lịch mới này.

Hiệp hội đã đưa ra 7 xu hướng của du lịch chăm sóc sức khỏe trong thời gian tới. Đó là: Đặt sức khỏe lên lựa chọn hàng đầu trong danh sách: Đại dịch covid gây khủng hoảng lớn trên toàn cầu và đã dạy chúng ta rằng sức khỏe thực sự là tài sản lớn nhất.

Từ đó ngày càng tăng số lượng người có nhu cầu sử dụng quỹ thời gian du lịch để thực hiện hồi phục sức khỏe của mình cả tinh thần và thể chất. Xu hướng này sẽ định hướng và điều chỉnh lại các chương trình du lịch, địa điểm du lịch, nhấn mạnh những nội dung có lợi cho sức khỏe, nhằm đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu đang ngày càng lớn.

3.1 Tiếp xúc với thiên nhiên:

Theo điều tra khách du lịch diện rộng của tạp chí trên mạng (online magazine) Travel to Wellness.com vào năm 2015 đối với các khách hàng của loại hình du lịch chăm sóc sức khỏe, yếu tố thiên nhiên là một ý nghĩ quan trọng đầu tiên trong tâm trí các du khách.

Điều tra khách hàng của WTA năm 2018 và 2020 đã xác nhận thực tế là mong muốn được sống giữa thiên nhiên đang ngày càng tăng. Đối với những người hàng ngày phải chịu đựng tiếng ồn, sống trong các thành phố đông đúc liên tục tắc nghẽn, thiên nhiên an lành và tĩnh lặng có sức quyến rũ rất lớn.

Kết quả điều tra khách tham gia loại hình du lịch chăm sóc sức khỏe năm 2020 của WTA đã chỉ ra rằng, một trong những tuyên bố đạt được điểm cao nhất trong động cơ lựa chọn của khách là yên bình và tĩnh lặng.

3.2 Sức khỏe tâm thần:

Chưa bao giờ vấn đề sức khỏe tâm thần lại được đặt lên trước trong các cuộc bàn thảo hàng ngày như bây giờ. Ngày càng nhiều các bên tham gia vào lĩnh vực phục vụ khách (hospitality).

Chú ý đến việc cần phải đưa nội dung chăm sóc sức khỏe và các chương trình, sản phẩm, dịch vụ và nội dung sức khỏe tinh thần phải bao hàm trong các hoạt động này, phải được nhắc đến trong các thông điệp marketing của họ.

3.3 Xuất hiện những thành viên mới:

Do tác động trực tiếp của đại dịch và ưu tiên hàng đầu là “có sức khỏe tốt”, chúng ta sẽ thấy xuất hiện ngày càng nhiều những khách hàng mới lựa chọn nơi đến trong chuyến đi nghỉ là các khu nghỉ dưỡng mang danh wellness hay wellness retreat (hướng tới sức khỏe của khách, có dịch vụ chăm sóc và phục hồi sức khỏe cho khách).

Hay thậm chí là mô hình kết hợp linh hoạt (hybrid properties) (là những khách sạn và khu nghỉ dưỡng không mang danh wellness nhưng có cung ứng các chương trình và sản phẩm cụ thể thực sự chăm sóc sức khỏe của khách).

3.4 Nam giới tham gia nhiều hơn vào các chuyến đi du lịch với mục đích chăm sóc sức khỏe:

Nghiên cứu khách hàng của WTA năm 2018 chỉ ra rằng phần lớn khách của du lịch chăm sóc sức khỏe là phụ nữ (hơn 80%), nhưng kết quả điều tra năm 2020 cho thấy tỷ lệ nam giới và nữ giới đối với loại hình này đã gần như cân bằng.

Tuy không thể đảm bảo chính xác sự tăng trưởng về số nam giới đặt dịch vụ chăm sóc, phục hồi sức khỏe cho kỳ nghỉ của mình là bao nhiêu vì lĩnh vực này đang phục hồi sau đại dịch.

Chúng ta có thể khẳng định, thông qua số liệu điều tra, rằng nam giới chắc chắn ngày càng nhiều người nhận ra, biết đến và quan tâm hơn đến loại hình và sản phẩm chăm sóc sức khỏe đối với các chuyến nghỉ dưỡng trong tương lai của họ.

3.5 Đi đơn lẻ theo ý thích riêng:

Sau thời gian cách ly (lockdown) dài ngày do đại dịch covid xảy ra khắp nơi trên thế giới, việc đi du lịch đơn lẻ thực sự hoàn toàn phụ thuộc vào sức khỏe của cá nhân và tình trạng sức khỏe tốt là chìa khóa để hoàn thành chuyến đi.

Đi du lịch đơn lẻ là một xu hướng diễn ra từ nhiều năm đến nay và sẽ còn tiếp tục trong thời gian tới, vì nhiều du khách muốn đi theo ý thích riêng của bản thân.

Đi du lịch đơn lẻ thành xu hướng lớn đến mức rất nhiều thành viên của WTA đã từng tham gia và đóng góp vào kết quả khảo sát gần đây của WTA về kỳ nghỉ phục hồi sức khỏe (Wellness Vacation) là gần 25% người được hỏi đã tham gia du lịch đơn lẻ.

3.6 Mong muốn đáp trả:

Với tất cả những gì đang diễn ra trong năm vừa qua, chúng ta chứng kiến nhu cầu sống tử tế ngày càng tăng lên, để đáp trả cho cộng đồng nơi mình đã tới thăm, hành xử có trách nhiệm với xã hội, quan tâm hơn tới sự tồn vong của mọi người và cả hành tinh này.

Những xu hướng kể trên không chỉ đối với loại hình du lịch chăm sóc sức khỏe mà còn là sự phát triển mới của du lịch, chắc chắn những ngành nghề/lĩnh vực du lịch liên quan đến chăm sóc sức khỏe sẽ phát triển mạnh chưa từng có trên toàn cầu từ trước tới nay, đặc biệt là sau đại dịch Covid 19.

Các nhà hoạch định chính sách cần đẩy mạnh các biện pháp chăm sóc sức khỏe thông qua việc tạo môi trường sống trong lành, khuyến khích các hoạt động thể chất và ăn uống giữ gìn, phát triển lực lượng nhân sự và sản phẩm dịch vụ phục vụ việc chăm sóc sức khỏe.

Ngành du lịch Việt Nam cần xem xét, nhận diện các xu hướng này và sớm đưa ra những sản phẩm phù hợp, thay đổi hướng kinh doanh để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của thị trường trong giai đoạn tiếp theo./.

Nguyễn Thanh Bình – Vụ Khách Sạn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Du lịch Việt Nam (2019). Wellness Tourism – Làn sóng mới khuấy động tình hình du lịch thế giới. Truy cập tại: dulichvietnam.org.vn/d1166/wellnesstourism-%E2%80%93-lan-song-moi-khuay-dong-thi-truong-du-lich-the-gioi.html
2. Ngọc Liên (2020). Du lịch chăm sóc sức khỏe. Truy cập tại: vietnamtourism.gov.vn/index.php/items/34379, ngày 11 tháng 10 năm 2020.
3. Thùy Linh (2020). Giải mã cơn sốt “Du lịch Wellness” – Xu hướng du lịch chăm sóc sức khỏe thời đại mới. Truy cập tại: reti.vn/blog/du-lich-wellnessxu-huong-du-lich-suc-khoe-thoi-dai/, ngày 14 tháng 9 năm 2020.
4. Viện nghiên cứu chăm sóc sức khỏe toàn cầu (2018), Global Wellness Tourism Economy NOVEMBER 2018.
5. Asian development bank (2020), Asian development outlook 2020 update, theme chapter: Wellness in worrying times.
6. findyourparadise.co/7-travel-trends-for-global-wellness-day-2
7. Bitner, M. J., Booms, B. H. and Mohr, L. A. (1994) Critical service encounters: The employees’ viewpoint, Journal of Marketing, 58 (4), 95-106. doi.org/10.1177/002224299405800408
8. 12. Connell, J. (2006b) Medical tourism: The newest of riches, Tourism
Recreation Research, 31 (1), 99-102. doi.org/10.1080/02508281.2006.11081252
9. Csirmaz, E. and Peto, K. (2015) International trends in recreational and wellness tourism, Procedia Economics and Finance, 32, 755-762. doi.org/10.1016/S2212-5671(15)01458-6
10. Ardell, D. (1985) The history and future of wellness, Health Values, 9 (6), 37-56.

Xem thêm bài viết: Tiêu chí hoạt động kinh doanh du lịch chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam

Bạn đang xem bài viết:
Du lịch chăm sóc sức khỏe ý nghĩa xu hướng và sự khác biệt du lịch y tế
Link https://myhocdaicuong.com/du-lich/du-lich-cham-soc-suc-khoe-y-nghia-xu-huong-va-su-khac-biet-du-lich-y-te.html

Tìm kiếm có liên quan: 3 loại hình du lịch y tế; Bệnh viện đăng ký cung cấp dịch vụ du lịch y tế; Các doanh nghiệp lữ hành chuyên tour du lịch y tế ; Cơ hội mới cho du lịch việt nam trong tương lai; Du lịch y tế Hàn Quốc; Du lịch y tế hướng đi mới đầy hứa hẹn của tphcm; Du lịch y tế là gì; Du lịch y tế Singapore; Du lịch y tế tại Việt Nam;

Tìm kiếm có liên quan: Để du lịch y tế trở nên đơn giản như một chuyến du lịch; Lợi ích của du lịch y tế; Ra mắt website đầu tiên của việt nam về du lịch y tế; Tại sao lại là du lịch y tế mà không là đi khám chữa bệnh ở nước ngoài; Tìm hiểu lịch sử của du lịch y tế và 3 loại hình du lịch y tế; Tìm hiểu về du lịch y tế tại việt nam; Thực trang du lịch y tế ở Việt Nam; Triển vọng phát triển du lịch y tế.

Chia sẻ bài viết: