Bàn về du lịch chăm sóc sức khỏe du lịch y tế ở Việt Nam

ban ve du lich cham soc suc khoe du lich y te o viet nam

Du lịch chăm sóc sức khỏe đã xuất hiện từ rất lâu và ngày nay đã trở thành một xu hướng của du lịch thế giới. Tuy vậy, Việt Nam đây là một loại hình du lịch mới bắt đầu phát triển.

Vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu và có giải pháp phát triển nó là hết sức cần thiết. Bài viết này muốn góp một vài suy nghĩ “Bàn về du lịch chăm sóc sức khỏe/ Du lịch y tế ở Việt Nam”, trên cơ sở đó để hiểu đầy đủ hơn và tìm giải pháp phát triển nhanh chóng hơn loại hình du lịch này.

1. Khái niệm về du lịch chăm sóc sức khỏe.

Khái niệm du lịch chăm sóc sức khỏe không phải là mới. Du lịch chăm sóc sức khỏe xuất hiện hàng nghìn năm trước khi những người hành hương Hy Lạp đi từ vùng Địa Trung Hải rộng lớn đến vùng lãnh thổ nhỏ bé thuộc vịnh Saronic có tên gọi Epidauria. Vùng đất này vốn là nơi thờ vị thần chữa bệnh Asklepios. Epidauria trở thành điểm du lịch chăm sóc sức khỏe đầu tiên.

Các suối nước khoáng cho bệnh nhân đến nghỉ ngơi, tắm và hồi phục cũng có thể được coi là dạng dầu tiên của loại hình du lịch này. Để đi sâu vào loại hình du lịch này, trước hết cần hiểu rõ hơn các khái niệm: Du lịch chăm sóc sức khỏe, Du lịch y tế.

1.1 Cách hiểu thứ 1: Du lịch chăm sóc sức khỏe hoặc du lịch y tế (tiếng Anh: medical tourism hay medical travel) là một thuật ngữ thường được các hãng du lịch và phương tiện truyền thông dùng để nói về kỹ nghệ đưa khách đi du lịch đến một nước khác với mục đích chính là nhận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe.

Các dịch vụ này thường bao gồm các thủ tục cũng như các hình thức phẫu thuật tổng hợp đặc biệt như thay khớp nối (đầu gối/hông), phẫu thuật tim, nha khoa và phẫu thuật thẩm mỹ. Những người thực hiện cũng như khách hàng sử dụng các kênh không chính thức như hợp đồng thông qua các phương tiện truyền thông, với ít quy định hoặc giám sát về mặt luật pháp để đảm bảo chất lượng cũng như ít sự hỗ trợ cho việc bồi thường chính thức nếu cần. Đoàn Hương Lan, Nguyễn Tư Lương.

1.2. Cách hiểu thứ 2: Du lịch chăm sóc sức khỏe (Wellness Tourism). “Wellness” trong tiếng Anh hàm chứa ý nghĩa của hai từ “Healthy” và “Spiritual” tức ám chỉ sự khỏe mạnh về mặt thể chất và sự khỏe mạnh về mặt tinh thần. Wellness là sự kết hợp giữa sức khỏe thể chất “healthy” và sức khỏe tinh thần “Spiritual”. Do đó Wellness tourism chính là muốn nói đến loại hình du lịch giúp du khách không những có được sự thư giãn đầu óc sau những ngày làm việc mệt mỏi mà còn cải thiện thể chất CEO Trương Tài Năng – Co Founder tại Giathuecanho.com

Hay nói cách khác, Wellness tourism là loại hình du lịch làm cho du khách trở nên thư giãn, thoải mái, hết mệt mỏi, uể oải trong quá trình trải nghiệm du lịch. Trái lại, tour nhằm mục đích tăng cường sức khỏe tinh thần, thể chất cho chính du khách, refresh cơ thể thông qua việc khai thác nhiều hoạt động thể chất, tâm lý hay tâm linh.

Điển hình là việc thực hiện những liệu trình chăm sóc, nâng cao sức khỏe đặc biệt như tắm nước khoáng, massage, yoga, thiền,…kết hợp song song việc tham quan du lịch những địa điểm linh thiêng, giàu tính nhân văn, những phong cảnh hùng vỹ, thanh bình, độc đáo…nhằm giúp du khách hưởng thụ trọn vẹn được sự tuyệt vời của cuộc sống và có cái nhìn tích cực hơn, mau chóng đưa cơ thể đạt trạng thái cân bằng, khỏe khắn..

Wellness Tourism với Medical Tourism có phải là một?

Đây là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Medical Tourism là du lịch y tế hay còn gọi là du lịch chữa bệnh. Được hình thành khi con người có nhu cầu du lịch đến nơi có điều kiện y tế, khám chữa bệnh tốt hơn và bản thân người đó đã mang bệnh sẵn.

Còn Wellness Tourism có ý nghĩa phòng bệnh hơn. Nghĩa là những ai muốn hướng đến một cuộc sống khỏe mạnh, nâng cao chất lượng đời sống thì có thể lựa chọn dịch vụ này. Tức là vốn bản thân người đó không nhất thiết phải mang mầm bệnh mà việc họ lựa chọn dịch vụ du lịch này nhằm để thư giãn xả stress, nghỉ ngơi, tạm quên đi những tiêu cực xảy ra trong cuộc sống hằng ngày.

Ngoài ra, Medical Tourism phần lớn mục đích là để chữa bệnh, tham gia vào chẩn đoán điều trị, được giám sát, theo dõi của các y bác sĩ. Trong khi đó, Wellness Tourism hoàn toàn không có sự xâm lấn mang tính chất y học.

1.3. Cách hiểu thứ 3: Hiểu theo nghĩa rộng về Du lịch sức khỏe (Wellness Tourism), Du lịch y tế ( Medical tourism) Theo chúng tôi, nếu chúng ta hiểu du lịch chăm sóc sức khỏe theo nghĩa rộng thì bao gồm cả Du lịch chăm sóc sức khỏe đơn thuần và cả du lịch chữa bệnh (du lịch y tế), bởi vì:

– Trong dịch vụ y tế có chăm sóc sức khỏe.

– Trong dịch vụ chăm sóc sức khỏe có dịch vụ y tế.

Khái niệm dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cho khách du lịch được sử dụng rộng rãi trong thời đại ngày nay khi mà khách du lịch không chỉ có nhu cầu tham quan, nghỉ ngơi khi đi du lịch mà còn muốn được cải thiện sức khoẻ thể chất và tinh thần của mình trong chuyến đi và đôi khi lựa chọn làm mục tiêu chính của chuyến du lịch. Dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cho khách du lịch được chia thành 2 nhóm chính:

(1) Dịch vụ du lịch chăm sóc sức khoẻ thuần túy: gồm những hoạt động du lịch hướng tới việc cải thiện và cân bằng những vấn đề chính của cuộc sống con người bao gồm thể chất, tinh thần, tình cảm, trí tuệ. Động lực chính cho khách du lịch sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe là tham gia vào các hoạt động phòng ngừa, chủ động, nâng cao lối sống như thể dục, ăn uống lành mạnh, thư giãn, chăm sóc và chữa bệnh.

(2) Dịch vụ du lịch y tế: gồm những hoạt động du lịch sử dụng biện pháp y tế, thuốc (có can thiệp xâm lấn và không xâm lấn), có thể bao gồm hoạt động chẩn đoán, điều trị, chữa khỏi, phòng ngừa và phục hồi.

Các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ thuần túy cho khách du lịch thường bao gồm: Làm đẹp và chống lão hóa; Ăn uống lành mạnh, dinh dưỡng và giảm cân; Tập thể dục và trí óc; Du lịch chăm sóc sức khỏe; Phòng chống bệnh tật; Thuốc bổ sung và thuốc thay thế; Spa; xoa bóp, bấm huyệt; Tắm nước khoáng nóng; Tắm ngâm lá thuốc… Các dịch vụ du lịch y tế có thể gồm: Giải phẫu thẩm mỹ; Điều trị sinh sản (IVF); Chăm sóc nha khoa; Châm cứu; Điều trị ung thư; Điều trị các bệnh về xương khớp, bệnh mắt, bệnh tim, bệnh về thần kinh; Phẫu thuật ghép tạng…

Để xác định đúng khái niệm dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cho khách du lịch, cần phải hiểu đúng “sức khoẻ” là gì. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã định nghĩa “sức khoẻ là trạng thái hoàn toàn khoẻ mạnh về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không chỉ đơn thuần là không có bệnh tật hay ốm đau”.

WHO cũng đề cập đến con người phải thực hiện các vai trò trong gia đình, công việc và cộng đồng, họ sẽ phải đối phó với căng thẳng về thể chất, sinh học, tâm lý và xã hội, từ đó cần xác định mức độ mà họ có cảm giác hạnh phúc và trạng thái cân bằng với môi trường sống.

Mặc dù định nghĩa của WHO về sức khỏe không sử dụng từ tâm linh, nhưng đối với nhiều nền văn hóa (đặc biệt là ở châu Á và Trung Đông), tâm linh thường được xem như một phần không thể thiếu hoặc thậm chí cơ bản của sức khỏe.

Nhiều công ty lữ hành (ví dụ: Skyros Holidays, Mystic Asia), các khách sạn chăm sóc sức khỏe, spa và khóa tu đang ngày càng cung cấp các hoạt động liên quan đến các thực hành tâm linh phi tôn giáo như yoga hoặc thiền định.

Chính vì vậy, hiểu theo nghĩa rộng thì Chăm sóc sức khỏe bao gồm sức khỏe về thể xác và tinh thần, điều đó cũng có nghĩa là bao gồm cả dịch vụ chăm sóc sức khỏe thuần túy và dịch vụ y tế. Sự phân biệt này ở mức độ nào đó cũng chỉ là tương đối.

Do đó, sự phân biệt “Du lịch chăm sóc sức khỏe” và “Du lịch y tế” trong thực tế trong nhiều trường hợp cũng là tương đối. Một ví dụ cụ thể: xoa bóp, bấm huyệt, tắm nước khoáng nóng, xông và tắm các loại lá là phương pháp chữa bệnh cổ truyền rất hiệu nghiệm của ông, cha ta.

Như vậy đó là phương pháp vừa chăm sóc sức khỏe vừa chữa bệnh. Nói như thế để thấy trong thực tế việc phân biệt rạch ròi, tuyệt đối giữa 2 loại hình dịch vụ này và do đó giữa 2 loại hình du lịch này là tương đối.

Các quốc gia trên thế giới nhiều khi cũng dùng thuật ngữ là Du lịch y tế hoặc Du lịch chăm sóc sức khỏe cho cả hai. Trong nhiều tài liệu tiếng Anh, nhiều tác giả dùng các thuật ngữ khác nhau như Medical Tourism; Health Tourism; Wellness Tourism; Health care Tourism; Medical travel nhưng về nội hàm đều bao gồm cả hai nội dung như đã nói.

Trong bài viết này chúng tôi muốn bàn đến Du lịch chăm sóc sức khỏe theo nghĩa rộng đó- tức là bao hàm cả Du lịch y tế (chữa bệnh).

2. Du lịch sức khỏe trên thế giới phát triển như thế nào?

Theo báo cáo của Global Wellness Institute (GWI), năm 2017 ngành Du lịch sức khỏe toàn cầu đạt giá trị 639 tỷ USD và sẽ đạt mức 919 tỷ USD vào năm 2022. Trung bình, cứ 6 đô la Mỹ chi tiêu cho du lịch trên toàn cầu thì 1 đô la Mỹ thuộc về thị trường wellness. Trong vòng 5 năm qua, châu Á dẫn đầu về cả số lượng chuyến đi lẫn doanh thu du lịch wellness.

Từ những số liệu đó có thể thấy, du lịch y tế cực kỳ phát triển trên thế giới. Nhiều quốc gia trên thế giới sớm nhận biết hướng mới trong ngành du lịch và lợi dụng ưu thế để phát triển du lịch sức khỏe.

Tiêu biểu là Nhật Bản với thế mạnh về spa khoáng nóng, Indonesia với resort giữa thiên nhiên, Ấn Độ với thiền, yoga… Khu vực phát triển nhanh và thành công nhất hình thức du lịch Wellness Tourism chính là châu Á. Có thể nói, nếu duy trì tốc độ phát triển nhanh chóng như hiện tại, Wellness tourism (WT) sẽ chiếm được gần 20% tỷ trọng của ngành du lịch toàn cầu.

Tổ chức Global Spa and Wellness Summit còn cho hay thị phần của Wellness tourism đang tăng nhanh hơn 50% tỷ lệ phát triển du lịch toàn cầu. Điều này chứng tỏ, xu hướng du lịch WT đã trở nên phổ thông hơn, đại chúng hơn, với lượng khách du lịch ngày càng đông hơn.

2.1. Thái Lan

Du lịch chăm sóc sức khỏe là lĩnh vực đang phát triển mạnh của du lịch và y tế Thái Lan. Nhân công giá rẻ giúp hạ thấp đáng kể chi phí phẫu thuật so với các bệnh viện ở Mỹ và có thể cung cấp dịch vụ chăm sóc cá nhân hóa nhiều hơn so với việc các khách phương Tây được chăm sóc trong các bệnh viện ở đất nước mình.

Trên 1 triệu người đến Thái Lan mỗi năm để thực hiện các ca phẫu thuật thẩm mỹ hay phẫu thuật tim. Năm 2005, một bệnh viện ở Bangkok đã phục vụ 150.000 bệnh nhân nước ngoài. Năm 2006, du lịch chăm sóc sức khỏe đã mang về cho đất nước này 36.4 tỉ baht.

Thái Lan được coi là sự lựa chọn đáng tin cậy cho những người muốn làm phẫu thuật thẩm mỹ, chuyển đổi giới tính và những năm gần đây là điều trị vô sinh hiếm muộn. Dịch vụ y tế của nước này hoàn toàn không thua kém Singapore.

2.2. Singapore

Singapore Medicine (Y tế Singapore) là một sáng kiến của các cơ quan chính phủ nhằm mục đích đưa Singapore trở thành một điểm đến hàng đầu đối với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Tháng 10/2003, Cục Du lịch Singapore đã phối hợp với Cục Phát triển kinh tế và Cục Đầu tư nước ngoài Singapore đưa ra sáng kiến liên ngành thành lập cơ quan “Singapore – Medicine”.

Mục đích hoạt động của cơ quan này là thu hút du khách quốc tế đến chữa bệnh tại Singapore nhằm phát triển nước này thành trung tâm chữa bệnh hàng đầu tại châu Á. Năm 2005, khoảng 374.000 khách đã đến Singapore chỉ đơn thuần để được chăm sóc về mặt y tế.

Nhiều người đến từ các nước láng giềng như Indonesia và Malaysia. Số lượng bệnh nhân đến từ Đông Dương, Nam Á, Trung Đông và Trung Quốc lực địa cũng đang tăng nhanh chóng. Bệnh nhân đến từ các nước phát triển như Mỹ cũng bắt đầu chọn Singapore là điểm đến cho các chuyến du lịch chăm sóc sức khỏe với chi phí có thể chấp nhận được tại một thành phố sạch.

Singapore định vị là một điểm đến cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, y tế, nghiên cứu y sinh học và chế biến thuốc. Singapore cũng cung cấp thông tin về những ca phẫu thuật phức tạp như thần kinh, ung thư và thay thế các cơ quan nội tạng. Gần đây, Singapore đã có số lượng bệnh viện được chứng nhận của JCI nhiều nhất trong khu vực.

2.3. Campuchia

Nổi tiếng với sự hùng vĩ của di tích lịch sử Angkor Wat và Angkor Thom. Campuchia cũng là địa điểm du lịch được lòng nhiều du khách. Ở đây cũng có vô số các spa chăm sóc sức khỏe, nơi lý tưởng để du khách tìm đến sự thư giãn, thư thái tinh thần, khỏe mạnh về thể xác. Du khách còn được trải nghiệm các dịch vụ massage bằng tinh dầu thơm truyền thống và thảo dược bản địa với phòng xông hơi cổ điển của người Khmer.

2.4. Philippines

Philipin được coi là phát triển sau với dịch vụ này thì từ năm 2006 cũng đã phát động cả một chiến dịch lớn mang tên “Philippines – điểm đến của du lịch chữa bệnh” với tham vọng thu hàng tỉ USD doanh thu mỗi năm.

2.4. Cuba

Trong hơn hơn 40 năm qua, Cuba được xem là một điểm đến du lịch chăm sóc sức khỏe hấp dẫn cho các bệnh nhân trên toàn thế giới, những người tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe chất lượng cao nhưng với chi phí thấp hơn. Năm 2006, Cuba đã đón tiếp gần 20.000 khách du lịch y tế. Cuba đặc biệt hấp dẫn đối với nhiều bệnh nhân ở Bắc Mỹ, châu Âu và châu Mỹ Latinh vì sự gần gũi của nó, sự thoải mái và những nét riêng của một xứ sở nhiệt đới.

Năm 2001, BBC cho biết hàng nghìn bệnh nhân đã đến Cuba, từ cả Mỹ Latinh và châu Âu, bị thu hút bởi sự tôn trọng của các bác sĩ Cuba, chi phí thấp và những bãi biển gần đó cho quá trình phục hồi.

Nhiều loại phẫu thuật khác nhau được thực hiện ở đây, bao gồm các ca thay các cơ quan trong cơ thể, chữa trị ung thư, phẫu thuật thẩm mỹ và cai nghiện. Chi phí ở đây ít hơn ở Mỹ 60 – 80%. Ví dụ, Dịch vụ y tế tự chọn, một hãng kinh doanh du lịch chăm sóc sức khỏe, cung cấp một chuyến thay khớp hông ở Cuba với giá 5.845 USD.

Chính phủ Cuba đã phát triển du lịch chăm sóc y tế như là một cách gia tăng nguồn thu chính cho đất nước này. Có một dự án đang thực hiện gửi hàng nghìn bác sĩ Cuba đến Venezuela để giúp đỡ những người dân nghèo, và điều này là cách Cuba trả nợ Venezuela cho lượng dầu mà nước này cung cấp.

2.5. Nam Phi

Nam Phi đưa khái niệm “du lịch chăm sóc sức khỏe” bằng quảng cáo rất hấp dẫn: Hành trình chăm sóc sức khỏe “Hãy đến và chiêm ngưỡng cuộc sống hoang dã ở châu Phi và thực hiện ca nâng mặt ngay trong chuyến đi này”.

3. Hiện trạng du lịch chăm sóc sức khỏe/ Du lịch y tế của Việt Nam phát triển như thế nào?

Việt Nam đang dần trở thành một điểm đến du lịch chữa bệnh mới của Châu Á – theo một nhận định gần đây của Đài tiếng nói Hoa Kỳ VOA. Chi phí đi lại, dịch vụ lưu trú và nhân lực y khoa giá rẻ, cạnh tranh so với các bệnh viện ở Mỹ, Châu Âu và các nước trong khu vực. Khoảng 350.000 người nước ngoài đến Việt Nam khám chữa bệnh và mang về cho đất nước này 2 tỷ đô la Mỹ năm 2018.

Theo ông Trần Quốc Bảo, chuyên gia hàng đầu về du lịch chữa bệnh và đầu tư y tế tại Đông Nam Á nhận định Việt Nam với vị trí chiến lược, nằm ở trung tâm Đông Nam Á, và sự ổn định chính trị, cùng hơn 3 triệu người Việt Nam Việt Kiều là một lợi thế cạnh tranh độc đáo về dịch vụ du lịch sức khỏe.

Các kỹ thuật da liễu, thẩm mỹ, lasik đến những phẫu thuật phức tạp như mổ tim, chấn thương chỉnh hình, y học thể thao, phẫu thuật nội soi, ung bướu, thụ tinh ống nghiệm, ghép tạng là những phẫu thuật phổ biến thu hút khách nước ngoài.

Từ tháng 11/2006, Chương trình du lịch châm cứu nâng cao sức khỏe và chữa bệnh đã mở đầu trên thị trường du lịch. GS. Nguyễn Tài Thu đã lập đề án và trực tiếp triển khai. Đây là chương trình ứng dụng tinh hoa y dược học dân tộc, khai thác phong thủy và văn hóa Việt Nam trong việc chăm sóc, nâng cao sức khỏe và chữa bệnh cho khách du lịch.

Hiện nay, một số du khách nước ngoài chủ yếu đến từ Thụy Điển, Australia, Đức… mới chỉ biết đến tên tuổi thầy thuốc nhân dân Nguyễn Tài Thu, một chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực châm cứu chữa bệnh.

Ông đã kết hợp với Tập đoàn Y học Quốc tế Du lịch, NTT Acupuncture Medical Tourism International Group (Thụy Điển), quảng bá, tổ chức các tour du lịch châm cứu kết hợp khí công để chữa bệnh tại Việt Nam khi du khách đến Việt Nam. Tuy nhiên, với số lượng vài trăm khách mỗi năm thì doanh thu từ loại hình du lịch chữa bệnh tại Việt Nam cũng không đáng kể.

Tới nay, một số địa điểm phổ biến nhất để tham gia các tour du lịch này có thể kể tới Ba Vì (Hà Nội), Yên Tử, Thiền viện Trúc Lâm (Tam Đảo – Vĩnh Phúc), Thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã, Alba Thanh Tân (Huế), Nha Trang (Khánh Hòa), Tả Phìn Hồ (Hà Giang)…

Nổi tiếng nhất vẫn là du lịch sức khỏe tại Ba Vì. Ba Vì thực sự là một vùng đất vô cùng quý giá bởi những gì tạo hóa đã ban tặng cho nơi đây. Ở Ba Vì có cả một kho báu tiềm năng về thiên nhiên non nước với những dãy núi trập trùng, những cánh rừng xanh bạt ngàn hùng vĩ, những thác nước, suối nước, hồ nước thơ mộng, trữ tình cùng một hệ sinh thái vô cùng phong phú.

Nơi đây cũng có rất nhiều khu du lịch sinh thái nổi tiếng phù hợp cho mục đích nghỉ dưỡng, thư giãn. Phong cảnh Thiên Sơn Ba Vì thực sự thích hợp cho việc chữa lành tâm hồn và thể chất. Điển hình có thể kể đến khu vực Thiên Sơn – Suối Ngà với những tour du lịch chữa lành của Medi Thiên Sơn.

Đơn vị này cung cấp một số dịch vụ chuyên nghiệp như tour một ngày sống lành, tour chữa lành chuyên biệt với những hoạt động: trải nghiệm Yoga – thiền – bấm huyệt – bắt mạch, chẩn trị bệnh tật và tư vấn chăm sóc sức khoẻ cùng thiền sư và y sư giữa núi rừng Tản Viên; thưởng thức các món ăn tốt cho sức khỏe: cháo trường thọ, trà dưỡng nhan và đặc biệt là các món ăn dược thiện để nâng cao sức đề kháng; hình thành thói quen ăn uống cho năng lượng bên trong; được học bài tập ngắn để thực hiện tại gia, giúp giảm đau xương khớp, mỏi vai gáy, lưu thông khí huyết; ngâm chân bằng thảo dược núi Tổ, bấm huyệt trị liệu…

Việt Nam còn có khu du lịch chữa bệnh Bảo Long thuộc Tập đoàn Y Dược Bảo Long Nằm ở thôn Trại Hồ (Sơn Tây, Hà Nội), tổ chức theo mô hình du lịch kết hợp khám chữa bệnh rất được yêu thích hiện nay. Du khách được trực tiếp tham quan vườn trồng các cây thuốc quý hiếm, nơi bào chế thuốc, siêu thị thuốc chứa hàng ngàn sản phẩm Đông dược…

Bên cạnh việc thu hút khách du lịch tới Việt Nam kết hợp khám chữa bệnh theo phương pháp cổ truyền, trong vài năm trở lại đây Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh đã xây dựng một số bệnh viện lớn, trang bị hiện đại theo tiêu chuẩn quốc tế và kinh doanh theo mô hình của các bệnh viện trong khu vực để thu hút khách từ các nước lân cận như Lào, Campuchia…

Một số công ty lữ hành cũng đã tổ chức một số tour du lịch nước ngoài như:

– Tour làm đẹp tại Hàn Quốc.
– Tour du lịch Nhật Bản kết hợp tầm soát ung thư.
– Tour du lịch Australia kết hợp kiểm tra hiếm muộn cho các cặp đôi.
– Tour Mỹ tầm soát ung thư.
– Tour du lịch khám tổng quát tại Singapore.
– Tour Nhật Bản kết hợp làm tế bào gốc.

Ngoài ra, một số công ty, tập đoàn lớn hàng năm thường có chính sách đãi ngộ cho cán bộ, nhân viên những gói khám tại nước ngoài theo những tour du lịch riêng. Tuy nhiên, có thể nói Việt Nam chưa thực sự quan tâm đến phát triển loại hình du lịch này ở trong nước.

Theo số liệu của Bộ Y tế, hằng năm có khoảng 40.000 người Việt ra nước ngoài để chữa bệnh – du lịch, tốn xấp xỉ 1 tỉ USD/năm. Đến nay, các khâu quảng bá cho mô hình du lịch – chữa bệnh tại Việt Nam vẫn gần như chưa có.

Trong khi đó, ở Singapore, các bệnh viện của họ đã mở hướng đầu tư sang nước ngoài, chẳng hạn bệnh viện Park Group đã thiết lập liên doanh để điều hành các bệnh viện và phòng khám ở Ấn Độ, Trung Quốc, Malaysia, một số nước ở Trung Đông. Tập đoàn này đã thành lập 37 văn phòng tiếp thị trên toàn cầu.

Bệnh viện Bumrungrad ở Bangkok, Thái Lan có 30 văn phòng đại diện tại 30 quốc gia, thậm chí còn đặt một văn phòng ở ngay sân bay Thái Lan để đón và hướng dẫn du khách đến nghỉ dưỡng kết hợp chữa bệnh. Cách làm ấy rất đáng để ngành Y tế Việt Nam tham khảo.

Tại Việt Nam, hầu hết du khách trong và ngoài nước còn biết ít đến dịch vụ du lịch chữa bệnh. Hiện nay, do du lịch chữa bệnh vẫn còn mới, chưa phát triển toàn diện nên chưa thật sự có nhiều sự lựa chọn tốt cho khách hàng. Tuy nhiên, có rất nhiều đơn vị làm tốt trong việc phát triển chuyên biệt các tour du lịch sức khỏe, du lịch chữa lành, du lịch chữa bệnh một cách hiệu quả.

4. Tiềm năng phát triển du lịch chăm sóc sức khỏe/ Du lịch y tế của Việt Nam ra sao?

Để trả lời câu hỏi: Việt Nam có điều kiện để phát triển loại hình du lịch này không? Câu trả lời chắc chắn là: Có. Vì rằng:

– Việt Nam có 3260 km bờ biển với nhiều bãi biển đẹp nổi tiếng, các vịnh, đảo đẹp, kỳ vỹ… phù hợp cho du lịch nghỉ ngơi, chữa bệnh.

– Việt Nam có nhiều khu nghỉ mát với phong cảnh đẹp, không khí ôn hòa, trong lành… nổi tiếng như Sa Pa, Tam Đảo, Mẫu Sơn, Ba Bể, Bạch Mã, Đà Lạt…

– Việt Nam có 400 nguồn nước nóng chủ yếu từ 40 – 800C được phân bố hầu khắp các tỉnh, có 4 suối nước nóng trên 800C, có suối nước nóng nhất lên tới trên 1000C, như suối khoáng Bang Quảng Bình trên 1050C, suối nước nóng Nghĩa Thuận, Quảng Ngãi gần 1000C, suối nước nóng Bưng Thị, Bình Thuận 870C và suối nước nóng Bình Châu ở Bà Rịa – Vũng Tàu 840C.

– Việt Nam có hệ thống cây dược liệu vô cùng phong phú, đa dạng. Đó là nguồn nguyên liệu quý để chữa bệnh, phục hồi sức khỏe rất tốt.

– Việt Nam có nền y học dân tộc cổ truyền quý báu, đặc sắc trên thế giới, có thể phục hồi sức khỏe nhanh chóng, thậm chí có thể chữa được cả các bệnh nan y.
Chúng ta lại có hệ thống bệnh viện y học dân tộc ở tất cả các tỉnh, thành phố.

– Đội ngũ thầy thuốc Tây y của Việt Nam ngày càng đông đảo và được nâng cao trình độ đang dần tiếp cận với nền y học thế giới. Các trang thiết bị y tế ngày
càng hiện đại.

– Cùng với các điều kiện trên, chi phí cho chăm sóc sức khỏe và chữa bệnh ở Việt Nam có sức cạnh tranh cao so với các quốc gia khác trên thế giới.

Với tất cả những tiềm năng và điều kiện nêu trên, có thể khẳng định rằng Việt Nam hoàn toàn có thể phát triển loại hình du lịch chăm sóc sức khỏe/Du lịch y tế.

5. Gợi ý một số định hướng và giải pháp phát triển Du lịch chăm sóc sức khỏe/Du lịch y tế tại Việt Nam.

Cần đưa loại hình du lịch này thành một loại hình trọng điểm trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam. Chính phủ cần có chính sách và quy hoạch phát triển loại hình du lịch này nhằm phục vụ cho việc nâng cao sức khỏe cho cộng đồng dân cư Việt Nam và thu hút người nước ngoài, tăng nguồn thu cho ngân sách.

Ngành du lịch phối hợp với ngành y tế cần có sự hướng dẫn cho các cơ sở y tế cũng như doanh nghiệp du lịch các cách thức, giải pháp để mở rộng loại hình du lịch này, trong đó chú ý sự phối hợp các công ty du lịch và các cơ sở y tế tư nhân.

Ngành y tế phối hợp với ngành du lịch tăng cường đào tạo bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và cả ngoại ngữ cho đội bác sỹ, y sỹ, nhân viên y tế để đáp ứng yêu cầu phục vụ khách du lịch cần chăm sóc sức khỏe/dịch vụ y tế.

Nhà nước và các ngành liên quan, trước hết là ngành du lịch cần tăng cường công tác tuyên truyền, xúc tiến quảng bá loại hình du lịch sức khỏe/y tế trên thị trường trong nước và thế giới để thu hút khách.

Trên đây là một số suy nghĩ “Bàn về Du lịch chăm sóc sức khỏe/Du lịch y tế ở Việt Nam”. Chắc chắn đây mới chỉ là những vấn đề khái quát, chưa đầy đủ. Song, hy vọng rằng sẽ góp thêm tiếng nói trong việc nghiên cứu, tìm hiểu về loại hình du lịch này, góp phần phát triển du lịch Việt Nam toàn diện và nhanh chóng hơn./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Horowitz, Michael D.; Rosensweig, Jeffrey A.; Jones, Christopher A. (2007). “Medical Tourism: Globalization of the Healthcare Marketplace“. MedGenMed. 9: 33. PMC 2234298. PMID 18311383
2. “Medical tourism–health care in the global economy” (PDF). Physician Exec. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2012.
3. “Health Tourism 2.0” (PDF). World Health Tourism Congress. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 29 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2007.
4. “Medical tourism growing worldwide” by Becca Hutchinson, UDaily, 25 tháng 7 năm 2005, truy cập 5 tháng 9 năm 2006
5. Voice of America. “Vietnam Turning into Medical Tourism Destination for Dental, Cosmetic Care“. Voice of America.
6. “Medical tourism: Need surgery, will travel” CBC News Online, 18 tháng 6 năm 2004, truy cập 5 tháng 9 năm 2006
7. Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ. “Việt Nam trở thành điểm đến du lịch chữa bệnh mới nhất của châu Á“. Đài tiếng nói Hoa Kỳ.
8. “CubasMedicalSuccess”, BBC News, ngày 10 tháng 9 năm 2001. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2007.
9. “Commentary: A Novel Tourism Concept”, Caribbean Net News, ngày 18 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2007.
10. “Medical Tourism: Hidden dimensions” Lưu trữ 2011-07-10 tại Wayback Machine by Rabindra Seth, Express Hospitality, June, 2006. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2006.
11. “Ailing PM speaks out: Urges all not to spread rumours about his health” Kantipur Report, ngày 7 tháng 7 năm 2006. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2006.
12. Báo Sài Gòn Giải Phóng. “Tạo sức hút cho y tế Việt Nam“. sggp.org.vn.
13. Báo Người Lao Động. “Tiềm năng cả tỉ USD từ du lịch y tế“. nld.com.vn.
14. Tạp chí khoa học EMedEvents.
15. Tạp chí Du lịch tháng 3/2013)
16. Connell, J. (2011). Medical tourism. Cabi.
17. Quốc Hội. (2017). Luật Du lịch số 09/2017/QH14.
18. World tourism organization and European travel commission. (2018). Exploring health tourism, UNWTO, Madrid

GS.TS.NGND. Nguyễn Văn Đính

Xem thêm bài viết: Tổng quan về du lịch chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam

Bạn đang xem bài viết:
Bàn về du lịch chăm sóc sức khỏe du lịch y tế ở Việt Nam
Link https://myhocdaicuong.com/du-lich/ban-ve-du-lich-cham-soc-suc-khoe-du-lich-y-te-o-viet-nam.html

Các tìm kiếm có liên quan: Mảnh đất màu mỡ còn bỏ ngỏ ở du lịch chăm sóc sức khỏe. Phát triển du lịch chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam. Khai thác chưa xứng tầm hấp dẫn cho khách du lịch trong và ngoài nước. Hậu covid du lịch sức khỏe lên ngôi như thế nào? Du lịch chăm sóc sức khỏe ở nước ngoài như thế nào? Quy trình công nhận cơ sở kinh doanh dịch vụ chăm sóc sức khỏe ra sao? Tiềm năng lớn phát triển du lịch chăm sóc sức khỏe. Nhiều tiềm năng phát triển du lịch chăm sóc sức khỏe các đảo ven biển.

Chia sẻ bài viết: